Nữ Tướng Tinh

Trùng Sinh Chi Nữ Tướng Tinh – Chương 171

NHUẬN ĐÔ LÝ KHUÔNG

Nhuận Đô là một tòa thành nhỏ.

Phía bắc là Kim Lăng phồn hoa sầm uất, phía nam là Hoa Nguyên vật tư phong phú. Bị kẹp giữa hai thành, Nhuận Đô ngoài việc nổi tiếng trồng nho ra, nhiều người thậm chí cả đời còn chưa từng nghe qua cái tên này.

Hai mươi ngày vội vã lên đường không màng ăn ngủ, mệt thì thu mình chợp mắt vài canh giờ dưới gốc cây hay hang động ven đường, đói thì dùng cung tên mang theo bắn thỏ rừng, móc trứng chim để ăn. Nhóm bảy người, vào chạng vạng ngày thứ hai mươi, cuối cùng cũng sắp đến được thành Nhuận Đô.

“Bây giờ chúng ta tính sao?” Mọi người ghìm ngựa dừng lại, sau khi xuống ngựa thì dắt ngựa đến bờ sông cạn uống nước, tiện thể ngồi xuống lót dạ chút đồ ăn. Hòa Yến nhìn về phía xa xa, trước mắt là một dải đồng hoang, đi đến chỗ này, nàng đã thuộc đường rồi.

Hòa Yến không nói gì, chỉ tìm một cái cây cao nhất trèo lên. Một lát sau, nàng từ trên cây nhảy xuống.

Hồng Sơn đưa cho nàng mấy quả trứng chim đã được vùi trong tro nướng chín: “Thế nào rồi? Chúng ta vào thành bằng đường nào?”

Trứng chim còn rất nóng, Hòa Yến xóc xóc mấy cái trong tay rồi mới bóc vỏ. Thức ăn nóng hổi vừa vào dạ dày, sự mệt nhọc suốt nhiều ngày qua dường như cũng vơi đi phần nào. Nàng nói: “Chúng ta không thể đi thẳng vào từ phía trước. Quân Ô Thác đang hạ trại ngoài cổng thành, cho dù chúng ta có thể tránh được chúng, binh lính gác cổng Nhuận Đô cũng không dám mở cửa thành.”

“Vậy phải làm sao?” Giang Giao nhìn nàng, “Hòa huynh, huynh có cách gì không?”

Hòa Yến suy nghĩ một chút: “Trước đó ta từng hỏi các huynh đệ Lương Châu Vệ, biết được ngoài cổng thành còn một con đường nhỏ, cần phải vượt qua một ngọn núi, sau đó đi đường thủy. Ngựa không lên đó được, chúng ta chỉ đành bỏ ngựa đi bộ. Lấy đường tắt đi vào là có thể lọt vào trong thành Nhuận Đô.”

“Thật sao?” Tiểu Mạch hỏi: “Vậy chúng ta mau ăn thôi, ăn xong còn tiếp tục lên đường.”

Hòa Yến gật đầu, nhìn về hướng thành Nhuận Đô, trong lòng lướt qua một tia lo âu.

Con đường tắt này, đương nhiên không phải do đám vệ binh Lương Châu vệ nói cho nàng biết. Chẳng qua là nhiều năm trước khi nàng giao chiến với người Tây Khương ở Nhuận Đô, vì muốn đưa bách tính ngoài thành vào lánh nạn, nàng đã cho đào một con đường hầm từ trong thành, đường hầm nối liền với bờ sông, qua sông lại có thể dẫn thẳng lên ngọn núi ngoài thành. Bất kể là người Tây Khương hay người Ô Thác, binh mã quy mô lớn căn bản không thể đi con đường này.

Hòa Yến không lo nơi đó có người Ô Thác mai phục, nhưng nàng lo rằng, cách nhiều năm như vậy, Lý Khuông rốt cuộc đã cho lấp đường hầm đó lại hay chưa. Dù sao Nhuận Đô cũng đã yên bình bao nhiêu năm nay.

Nhưng dù thế nào đi nữa, trước mắt vẫn phải tiếp tục tiến bước.

Mọi người rất nhanh đã ăn xong lương khô, sau nán lại nghỉ ngơi thêm một chốc, Hòa Yến tháo hết cương của mấy con ngựa, vỗ một cái vào mông chúng, bầy ngựa liền chạy biến vào rừng sâu.

“Xuất phát thôi.” Nàng nói.

Trước cổng thành, binh lính canh gác đang nhìn chằm chằm vào vùng đồng hoang phía xa, không bỏ sót bất kỳ một dấu vết khả nghi nào.

Trong phòng, Tri huyện Triệu Thế Minh đang lo lắng đi đi lại lại. Ông nhìn nam tử ngồi ở vị trí trung tâm nãy giờ không nói một lời, sốt ruột cất giọng: “Tổng binh đại nhân, sao Hòa tướng quân vẫn chưa đến, ngài mau nghĩ cách gì đi chứ!”

Lý Khuông, Thành Tổng binh của Nhuận Đô, nay vừa qua tuổi tứ tuần, dáng vóc cao lớn uy vũ, quanh mép để một vòng râu, trông vô cùng cương nghị. Ông đập bàn một cái, có chút không vui nói: “Ồn ào cái gì, ta đã nói rồi, Hòa tướng quân nhất định sẽ đến cứu viện Nhuận Đô chúng ta!”

Triệu Thế Minh bị ông làm cho giật mình, trong lòng bất mãn nhưng lại không dám lên tiếng. Thành Nhuận Đô hiện giờ có giữ được hay không, toàn bộ phải nhờ cậy vào vị đại nhân này. Nhưng đã hơn hai mươi ngày trôi qua, từ Hoa Nguyên đến Nhuận Đô cũng chỉ mất bốn năm ngày đường, bọn họ hiện tại không ra khỏi thành được, không có cách nào dò la xem tình hình Hoa Nguyên rốt cuộc ra sao, nửa điểm tin tức cũng chẳng có, quả thực khiến người ta không thể nào an tâm.

Trong phòng còn rất nhiều người đang ngồi, bầu không khí vô cùng ngột ngạt. Lúc này, có tiếng gõ cửa, rèm được vén lên, một nữ tử trẻ tuổi bước vào.

Đây là một mỹ nhân đích thực, khuôn mặt trái xoan, làn da trắng nõn như ngọc, đôi mắt sáng ngời động lòng người như. Dù trong thời khắc căng thẳng như thế này, nàng ta vẫn mặc một chiếc váy lụa mỏng màu hồng phấn thêu hoa sen. Trên mặt nàng vương nụ cười mỉm, đặt chiếc bát lưu ly trong tay xuống cạnh Triệu Thế Minh: “Triệu đại nhân đừng tức giận, ăn chút nho đi. Chỉ còn chừng này thôi, ngài nhớ ăn dè xẻn một chút.”

Đưa tay không đánh người mặt cười, nhất là khi đó lại là một mỹ nhân, Triệu Thế Minh dù trong lòng đầy khó chịu cũng đành cất đi, gượng cười nói: “Đa tạ Khởi La cô nương.”

Khởi La là tiểu thiếp được Lý Khuông sủng ái nhất, đi đâu cũng mang nàng theo. Nàng ta trẻ trung xinh đẹp, lại thông minh lanh lợi, một đóa hoa hiểu tiếng người như vậy, ai mà chẳng muốn ôm vào lòng. Chỉ có điều đang trong thời buổi chiến loạn, nhan sắc của mỹ nhân cũng không còn làm say đắm lòng người như trước nữa.

Khởi La bưng nho đến xong liền đứng ra sau lưng Lý Khuông, vươn những ngón tay ngọc ngà thon thả xoa bóp vai cho ông. Lực tay của nàng vừa vặn, giúp xua tan không ít mệt mỏi cho Lý Khuông sau những ngày ngược xuôi vất vả. Lý Khuông cầm bát trà trên bàn lên uống một ngụm, nói: “Trước khi Hòa tướng quân đến, tiếp tục tử thủ cổng thành!”

Triệu Thế Minh chưa kịp nói, người lên tiếng là một nam tử khác, ông ta là hội trưởng Thương hội trong thành Nhuận Đô: “Lý đại nhân, giữ cũng phải có thời hạn. Hiện giờ lương thực trong thành đã không còn nhiều, loại quả chúng ta trồng nhiều nhất là nho… nay cũng chỉ lấy ra được một bát nhỏ thế này. Cứ cố thủ như vậy, chỉ sợ Hòa tướng quân chưa tới, bách tính trong thành đã chết đói hết rồi!”

Có người khơi mào, những người khác cũng lập tức hùa theo.

“Đúng vậy, chúng ta không bị người Ô Thác đánh chết, lại bị nhốt trong thành chết đói, thế này là sao?”

“Lý đại nhân làm sao chắc chắn Hòa tướng quân nhất định sẽ tới? Lỡ như Hòa tướng quân không tới thì phải làm sao?”

“Đã hơn hai mươi ngày rồi, Phi Hồng tướng quân có phải ốc không mang nổi mình ốc, tự mình đã gặp rủi ro rồi không?”

Những âm thanh lao xao nhao nhao lấp đầy cả căn phòng, Lý Khuông “rầm” một tiếng nện nắm đấm xuống bàn, nước trà trong chén sánh đổ ra quá nửa, căn phòng dần dần im ắng lại.

“Vương chưởng quỹ nói như vậy, là có cao kiến gì sao?” Ông chằm chằm nhìn hội trưởng Thương hội, ánh mắt bức người như một đầu dã thú.

Vương chưởng quỹ rùng mình một cái, không dám hó hé thêm.

Bọn họ đều biết trốn trong thành lúc này là không ổn, nhưng cũng chẳng có cách nào tốt hơn, chẳng lẽ muốn xông ra ngoài liều mạng với quân Ô Thác sao? Chỉ bằng chút nhân mã của họ, e là chưa đủ nhét kẽ răng. Người Ô Thác bên ngoài cộng lại có đến mười vạn, đám tàn quân Ô Thác thua trận ở Hoa Nguyên trước đó không hề lui về phòng thủ mà trực tiếp chấn chỉnh đội ngũ, hội quân với một cánh quân Ô Thác khác, nhắm thẳng Nhuận Đô mà kéo đến.

Mà toàn bộ binh mã của Nhuận Đô gộp lại, miễn cưỡng mới được ba vạn.

Dù sao Nhuận Đô cũng chỉ là một tòa thành nhỏ.

“Nhưng Lý đại nhân, cứ giữ mãi thế này cũng không phải là cách, ngài cũng thấy rồi đấy,” Một lão giả tóc bạc phơ lên tiếng, “Mấy ngày nay, người Ô Thác liên tục thăm dò vào ban đêm, e là sắp phát động tổng tấn công vào thành rồi. Đánh nhỏ lẻ thì chúng ta còn cản được, chứ mười vạn đại quân Ô Thác mà thật sự ập vào, làm sao mà giữ nổi?”

Lý Khuông cắn chặt răng.

Những tình huống này, một Tổng binh như ông rõ hơn ai hết. Nên ngay từ đầu ông đã hiểu, điều duy nhất Nhuận Đô có thể làm hiện giờ là cầm chân người Ô Thác, đợi viện quân tới. Hòa Như Phi là cố nhân của ông, tuy hai người không tính là bạn chí giao, nhưng năm xưa khi cùng nhau chống lại quân Tây Khương, ông biết Hòa Như Phi là một vị anh hùng dũng cảm vô song, mang trong mình tấm lòng vì thiên hạ. Ông đã cầu viện Hòa Như Phi, đối phương nhất định sẽ đến. Nếu một thời gian dài như vậy mà bặt vô âm tín, tám chín phần mười là chính bản thân Hòa Như Phi cũng đang gặp rắc rối.

Nhưng Nhuận Đô cũng chẳng còn đối tượng nào khác để cầu viện. Kim Lăng sao? Kim Lăng không có tướng quân mang binh mã đồn trú, chỉ có quân lính hộ thành, cũng không thể bỏ thành chạy đến Nhuận Đô, đẩy Kim Lăng vào vòng nguy hiểm. Hai đại danh tướng của Đại Ngụy, còn có một Tiêu Hoài Cẩn, đáng tiếc Tiêu Hoài Cẩn đang ở tận Lương Châu xa xôi, nước xa đâu cứu được lửa gần.

Nhất thời, Lý Khuông thầm hận quyền thần gian ác lộng hành, nếu không phải vậy, Nam Phủ binh do Tiêu Hoài Cẩn dẫn dắt chắc chắn đã đánh cho đám Ô Thác này cút về quê mẹ, vĩnh viễn không bao giờ dám bước chân lên lãnh thổ Đại Ngụy nữa.

Giữa lúc mọi người đang im lặng, Triệu Thế Minh đột nhiên cất tiếng: “Lý đại nhân, ngài còn nhớ năm xưa khi Phi Hồng tướng quân ở trong thành, từng đào một con đường hầm bí mật thông ra ngoài thành không?”

Mọi người đều dồn mắt về phía Triệu Thế Minh, chuyện này ở đây không ai xa lạ. Năm xưa người Tây Khương tàn sát dã man bách tính không kịp vào thành ngay bên ngoài cổng thành Nhuận Đô. Phi Hồng tướng quân đã ra lệnh đào đường hầm, âm thầm tập hợp bách tính bên ngoài lại và đón tất cả vào trong. Lần đó đã cứu sống được mạng của vô số người, những bách tính ấy cảm kích Hòa Như Phi như có ơn tái tạo, bọn họ vốn dĩ tưởng rằng mình đã bị triều đình bỏ rơi.

“Ông muốn nói gì?” Lý Khuông hỏi.

Triệu Thế Minh thở dài một tiếng, đứng dậy, cúi gập người hành một đại lễ với Lý Khuông: “Đã đến bước đường cùng rồi, Triệu mỗ tuổi tác đã cao, lại là Huyện lệnh của Nhuận Đô, đương nhiên sẽ không rời đi, nguyện sống chết cùng bách tính trong thành, nhưng… cháu trai của Triệu mỗ, năm nay mới lên ba.”

“Xin Lý đại nhân cho phép Triệu mỗ để gia đinh dẫn cháu trai theo đường hầm rời đi.”

Mọi người chấn động.

Ngay sau đó, liền có người nương theo lời Triệu Thế Minh mà khẩn khoản: “Xin Lý đại nhân cho phép mẫu thân dẫn theo thê nhi của tại hạ rời đi.”

“Xin Lý đại nhân…”

Những người ở đây đều đã ôm quyết tâm tử chiến, điều duy nhất vướng bận cũng chỉ là sự an nguy của người nhà. Bọn họ thi nhau lên tiếng cầu xin Lý Khuông cho thê nhi già trẻ một tia hy vọng sống sót.

Khởi La bặm môi, lén lút liếc nhìn Triệu Thế Minh.

Quả nhiên, khoảnh khắc tiếp theo, Lý Khuông liền giận dữ quát: “Hoang đường! Các người ai cũng muốn đưa người nhà xuất thành, bách tính thấy thế cũng rập khuôn bắt chước, đến cuối cùng, người Ô Thác còn chẳng cần đánh, ta thấy tòa thành này đã trống không rồi!”

“Các người làm vậy, là đang làm dao động quân tâm!” Nói đến đoạn cuối, giọng điệu đột ngột trở nên nghiêm khắc, bộc lộ sát khí bừng bừng, khiến mọi người im thin thít như ve sầu mùa đông.

Khởi La lùi sang một bên, không dám lên tiếng vào thời khắc mấu chốt này.

Giữa bầu không khí im ắng, đột nhiên bên ngoài có người xông vào bẩm báo: “Đại nhân, đại nhân…”

“Có chuyện gì mà hoảng hốt vậy?” Lý Khuông nhíu mày.

“Đường hầm… đường hầm của chúng ta… có người đi vào!”

“Cái gì?” Lý Khuông bật phắt dậy, ý nghĩ đầu tiên xẹt qua trong đầu ông chính là: Hòa Như Phi tới rồi sao? Dù sao ngoài những bách tính từng chui qua đường hầm năm xưa, Hòa Như Phi là người đã đích thân đi qua đó. Ông hỏi dồn: “Có phải là Phi Hồng tướng quân không?”

“Không phải…” Vệ binh ấp úng: “Người đó xưng, xưng là…”

“Võ An Lang Hòa Yến.”

Lời còn chưa dứt, rèm cửa lại bị xốc lên, một thiếu niên mặc hồng y cất bước đi vào.

Đây là một khuôn mặt mà Lý Khuông không hề quen biết. Thiếu niên này tuổi đời cũng không lớn, cùng lắm chỉ khoảng mười sáu mười bảy. Dáng vẻ vô cùng thanh tú rạng rỡ, thu hút nhất là đôi mắt kia, lấp lánh tỏa sáng như hai viên bảo thạch. Khóe môi hắn khẽ hiện ý cười, nhìn thấy người xếp chật cả phòng cũng không mảy may hoang mang, phong thái ung dung chắp tay với Lý Khuông: “Ra mắt Lý đại nhân.”

Lý Khuông cau mày, quát: “Ngươi là kẻ nào?”

Hòa Yến chỉ vào y phục của mình, lại giũ từ trong tay áo ra một ấn tín, ném cho Lý Khuông: “Tại hạ Hòa Yến.”

Ấn tín là thật, không thể làm giả được, bộ quan phục này nhìn cũng là đồ thật. Chỉ là Lý Khuông tốt xấu gì cũng làm quan đã lâu, cái tên Hòa Yến này ông mới nghe thấy lần đầu. Nhất thời có chút hồ nghi, ngược lại Khởi La đứng cạnh liền “A” lên một tiếng, nhẹ giọng rụt rè: “Võ An Lang? Có phải là vị Võ An Lang trước đó cùng Tiêu Đô đốc ở thành Tế Dương, hỏa thiêu kênh đào, đại phá quân Ô Thác, cuối cùng được Bệ hạ thân phong không?”

Nói Võ An Lang thì không ai biết, nhưng nhắc đến chiến công hỏa thiêu kênh đào Tế Dương đại phá quân Ô Thác thì ai nấy đều tỏ tường. Mọi người kinh ngạc nhìn về phía Hòa Yến. Bọn họ có nhớ lúc đó đúng là có một thân tín sát cánh chiến đấu cùng Tiêu Giác được thăng quan tiến tước, nhưng không ngờ tới lại là một thiếu niên thế này?

Tuổi tác e là quá nhỏ rồi. Chẳng lẽ là kẻ giả mạo?

Mọi người càng nghi ngờ, Lý Khuông lại càng yên tâm hơn phần nào. Nếu thực sự là quỷ kế của người Ô Thác, chẳng việc gì chúng phải cất công tìm một thiếu niên vắt mũi chưa sạch đến để chuốc lấy sự hoài nghi. Có điều… ông hỏi: “Làm sao ngươi biết được đường hầm trong thành Nhuận Đô?”

“Ta không biết,” Hòa Yến đáp: “Là Đô đốc nói cho ta.”

Tiêu Hoài Cẩn sao? Lý Khuông thầm nghĩ, với bản lĩnh của Tiêu Hoài Cẩn, tra ra được đường hầm này cũng không phải chuyện khó khăn gì. Chỉ là… trong lòng ông dâng lên sự kỳ vọng: “Là Tiêu Đô đốc phái ngươi tới sao? Có phải ngài ấy định chi viện cho Nhuận Đô? Chuyến này ngươi mang theo bao nhiêu binh mã? Binh mã không thể vào đường hầm, có phải người của ngươi đều đang chờ ngoài thành không?”

Hòa Yến nhìn chằm chằm Lý Khuông. Người này nhiều ngày liên tiếp lao lực giữ thành, trong mắt vằn lên những tia máu, trông vô cùng tiều tụy. Mới mấy năm không gặp, ông thoạt nhìn cũng đã già đi rất nhiều. Đối mặt với ánh mắt kỳ vọng nhường ấy, Hòa Yến chậm rãi lắc đầu: “Là tự ta đến đây. Ta không mang theo binh mã, bên ngoài thành cũng không có Nam Phủ binh nào đóng quân cả.”

Niềm vui sướng của cả căn phòng trong chốc lát bị câu nói này của Hòa Yến dội gáo nước lạnh. Lý Khuông nhíu mày: “Ngươi đang nói đùa sao?”

Hòa Yến lấy lại ấn tín của mình cất kỹ: “Ta là Võ An Lang do Bệ hạ ngự phong, khi có quân tình khẩn cấp, có quyền không tuân theo sự chỉ huy của Đô đốc.”

Lý Khuông nhìn nàng, cảm thấy thiếu niên này quả thực quá đỗi kỳ quặc. Ban đầu ông tưởng Hòa Yến vâng lệnh Tiêu Giác mà đến, nay lại nói là do tự mình chủ trương? Ông liền mỉa mai: “Vậy Võ An Lang, ngài một thân một mình đến Nhuận Đô, chẳng lẽ là để dạo chơi ngắm cảnh sao? Thứ lỗi cho ta không thể hiểu nổi.”

Hòa Yến mỉm cười: “Ta đến đây để giúp ngài.”

“Chỉ dựa vào ngươi?”

“Dựa vào chúng ta.”

Lời vừa dứt, chỉ nghe thấy bên ngoài vang lên tiếng người: “Đúng thế, còn có chúng ta! Dựa vào đâu mà khinh thường người khác!”

Rèm cửa bị vén lên, Khởi La che miệng kinh ngạc, chỉ thấy vài ba người lác đác từ bên ngoài bước vào. Cao thấp mập ốm kiểu người nào cũng có, ngoại trừ Hòa Yến ra, tổng cộng có sáu người.

Có một người thoạt nhìn sặc mùi thổ phỉ, trên mặt mang một vết sẹo xông lên trước một bước, giọng điệu ngang ngược mắng: “Ông đây lội suối trèo đèo, ngàn dặm xa xôi chạy đến tận đây không phải để nghe các người nói nhảm! Ở đây, Lương Châu vệ số một hai ba bốn năm sáu bảy, không làm gì khác, chuyên đến giúp các người đánh quân Ô Thác! Đừng có được tiện nghi còn khoe mẽ, còn nói nhăng nói cuội nữa, ông đây đánh cả các người lẫn bọn Ô Thác luôn đấy!”

Lý Khuông tức đến mức sắc mặt xanh mét. Đám thổ phỉ này từ đâu chui ra vậy, coi thường quân kỷ, mục hạ vô nhân!

Lại có một thanh niên thoạt nhìn tuấn tú và ôn hòa hơn, chắp tay với mọi người, cười xòa giải vây: “Ở Lương Châu vệ lâu ngày, huynh đệ ăn nói có phần thô lỗ, mong chư vị đại nhân lượng thứ. Nhưng Lý đại nhân quả thực không cần lo lắng, bảy huynh đệ chúng ta ở đây tuyệt đối không làm vướng chân Nhuận Đô. Trên thực tế, trong quá khứ, chúng ta đã từng hai lần giao thủ với người Ô Thác. Làm thế nào để đánh bại chúng, chúng ta là người có kinh nghiệm nhất.”

Hòa Yến nhìn bóng lưng Giang Giao, thầm nghĩ không hổ là thiếu đông gia của võ quán ở Sóc Kinh, lúc cần ra vẻ đạo mạo thì tuyệt không chút lúng túng.

Lý Khuông chưa kịp nói gì, Triệu Thế Minh đứng bên cạnh đã lập tức xông tới, nắm chặt lấy tay Giang Giao, nước mắt lưng tròng nói: “Vậy thì thật tốt quá, Nhuận Đô đang rất cần những vị anh hùng như các vị!”

Đùa à, bây giờ có thêm một người đánh giặc, Nhuận Đô sẽ trụ thêm được một khắc, biết đâu trụ thêm được một khắc ấy, lại có thể chờ được viện quân của Phi Hồng tướng quân đến. Hơn nữa bọn họ vừa nói gì cơ? Trong quá khứ đã từng giao thủ với người Ô Thác hai lần, và đều chiến thắng? Quân sư cỡ này, quả thực là đưa than sưởi ấm trong ngày tuyết rơi!

Trong chốc lát, Triệu Thế Minh cũng bất chấp sắc mặt Lý Khuông ra sao, chỉ sốt sắng nói: “Chư vị anh hùng sẵn sàng bất chấp an nguy sống chết đến cứu Nhuận Đô ta trong lúc nguy nan thế này, quả là bậc cao nghĩa! Đáng tiếc nay Nhuận Đô đang lúc tứ bề khốn đốn, không có gì để báo đáp.” Ông ta quay đầu nhìn thấy đĩa nho trên bàn, liền mượn hoa hiến Phật, bưng lên đưa qua: “Đây là nho đặc sản của Nhuận Đô chúng ta, chư vị nếm thử xem!”

Giang Giao thuận tay đưa bát nho cho Tiểu Mạch. Tiểu Mạch cầu còn không được, ôm bát ăn cực kỳ vui vẻ.

Hiện nay đừng nói là nho, ngay cả lương thực cũng chẳng còn lại mấy, mọi người trong phòng nhìn Tiểu Mạch ăn uống ngon lành, thi nhau nuốt nước bọt ừng ực.

Hòa Yến nhìn về phía Lý Khuông: “Ta có mấy lời muốn nói riêng với Lý đại nhân.”

Lý Khuông trừng mắt nhìn Hòa Yến, ông không dám nói là hoàn toàn tin tưởng thiếu niên này, nhưng nhất thời cũng không tìm ra được điểm gì sai. Nghe vậy, trong lòng thầm nghĩ không biết tiểu tử này lại đang mưu đồ gì, bèn hất cằm: “Ngươi đi theo ta.”

Hòa Yến theo Lý Khuông đi vào thư phòng, để mặc những người khác ở lại ngoài sảnh. Vừa đóng cửa, Lý Khuông ngồi xuống, nhìn nàng, lạnh lùng nói: “Ở đây không có người ngoài, Võ An Lang có gì cứ nói thẳng.”

Trước đây từng cộng sự với Lý Khuông, Hòa Yến biết hiện giờ ông vẫn còn nghi ngờ mình, điều này cũng không có gì đáng trách. Nếu đổi lại là nàng, đột nhiên có một đám người chạy đến đòi giúp đỡ giữa lúc dầu sôi lửa bỏng, nàng cũng sẽ sinh lòng cảnh giác. Hòa Yến rút từ trong ngực áo ra một cuộn giấy da: “Trên đường từ Lương Châu Vệ vội vã đến Nhuận Đô, những lúc rảnh rỗi nghỉ ngơi, ta đã cẩn thận nhớ lại cảnh giao chiến với người Ô Thác trước đây, đem tất cả thói quen và đặc điểm tác chiến của chúng ghi chép lại. Hai lần đánh với quân Ô Thác, một lần ở Lương Châu Vệ, một lần ở Tế Dương, thủy chiến và lục chiến đều có đặc điểm riêng, những thông tin này hẳn là có lợi cho Lý đại nhân.”

Lý Khuông bán tín bán nghi đón lấy. Vừa mở ra, sắc mặt ông đã khẽ biến, vẻ mặt trở nên có chút kích động.

Ông đương nhiên có thể nhìn ra những dòng ghi chép trên cuộn giấy này là bốc phét hay là sự thật. Ít nhất có một số điểm được vạch ra rất khớp với những kinh nghiệm mà ông đúc kết được trong quá trình giao đấu với kẻ địch.

Bản thân ông cũng không phải không có ghi chép của riêng mình, nhưng không thể rõ ràng và tỉ mỉ bằng thứ này. Điều này tất nhiên một phần là vì khoảng cách khi ông tiếp xúc với người Ô Thác không gần gũi và trực diện bằng hai lần của Hòa Yến, nhưng còn một nguyên nhân nữa: năng lực của bản thân ông cũng không xuất chúng bằng.

Trong chốc lát, nhìn cuộn giấy, trong đầu ông lại hiện lên bóng dáng của một người khác: Hòa Như Phi. Khả năng tổng kết chiến sự của Hòa Như Phi trước đây cũng chuẩn xác hệt như thế này.

Ông biết được sự quý giá của bản thảo này, bởi vậy, ánh mắt nhìn Hòa Yến cũng đã dịu đi đôi chút, cất giọng hỏi: “Những thứ này đều do ngươi tự viết sao?”

“Là ta và các huynh đệ cùng nhau tổng hợp ra.” Hòa Yến không ôm trọn công lao vào mình, “Mỗi người đều có sở trường riêng, góc khuất của người này lại có thể là tầm nhìn của người khác, gộp lại có thể tránh tối đa sai sót.”

Lý Khuông gật đầu: “Đa tạ.”

Hòa Yến nhìn thẳng vào ông: “Lý đại nhân, thứ lỗi cho ta nói thẳng, sau này ngài định trù tính thế nào? Cứ tử thủ cổng thành mãi như vậy để đợi Phi Hồng tướng quân mang viện binh tới sao? Lỡ như hắn ta không tới, ngài định làm thế nào?”

Hòa Yến không phải là người đầu tiên nói câu này, và cũng sẽ không phải là người cuối cùng. Lý Khuông thở dài thườn thượt: “Ngoài cách đó ra, chúng ta còn cách nào khác sao? Binh mã trong thành vốn không nhiều, chiến một trận đập nồi dìm thuyền đương nhiên là sảng khoái, nhưng một khi thành vỡ, mấy vạn bách tính đều sẽ chôn xác dưới đao quân Ô Thác. Nhuận Đô chỉ là cửa hiểm đầu tiên, Nhuận Đô thất thủ, tiếp theo sẽ đến Kim Lăng, rồi cứ thế tiến về phía Bắc…” Ngập ngừng một chút, ông đanh giọng: “Bệ hạ đã bắt chúng ta thề sống chết phải giữ được Nhuận Đô, chúng ta tuyệt đối không thể rời khỏi đây dù chỉ nửa bước.”

Ông bỗng sực nhớ ra điều gì, vội nhìn sang Hòa Yến: “Hòa huynh đệ, cậu từ ngoài thành lọt vào đây đúng không? Thực ra bây giờ vẫn còn một cách.”

Hòa Yến dư sức đoán được ông định nói gì, bèn cười nhẹ: “Lý đại nhân đừng nói là muốn ta ra khỏi thành đi Hoa Nguyên cầu viện Phi Hồng tướng quân nhé?”

“Người của ta đã phái đi ba đợt rồi, đều bặt vô âm tín. Hòa huynh đệ đã có thể theo Tiêu Đô đốc bảo toàn mạng sống từ trận Tế Dương, thân thủ ắt hẳn phi phàm. Nếu có thể xuất thành tìm được Phi Hồng tướng quân, may ra Nhuận Đô vẫn còn lối thoát.”

“Lẽ nào Lý đại nhân cho rằng những người được phái đi trước đó đều bị chặn đường ám hại trên đường tới tìm Phi Hồng tướng quân sao?”

Lý Khuông sững sờ: “Ý cậu là gì?”

“Ý ta là, trước sau ba tốp người, khả năng chưa tới Hoa Nguyên đã bị diệt gọn toàn quân là cực kỳ thấp. Đến tận bây giờ vẫn không có lấy một tin tức nào, e là chính bản thân Phi Hồng tướng quân cũng đang gặp rắc rối. Giờ mọi người đều bị vây khốn ở Nhuận Đô, hoàn toàn mù tịt tình hình bên ngoài, nếu cứ mạo muội chờ đợi, e rằng sẽ hại chết bách tính cả một tòa thành.”

Hòa Yến không nói toạc ra, bởi nàng hiểu rất rõ: chỉ sợ nhân mã Lý Khuông phái đi sau khi gặp được Hòa Như Phi đã bị hắn lập tức diệt khẩu. Lý Khuông từng cộng sự với “Phi Hồng tướng quân”, nay để tránh bị vạch trần thân phận thật, Hòa Như Phi chỉ hận không thể để Lý Khuông chết không có chỗ chôn, làm sao có thể vươn tay cứu viện, dù có gần ngay trong gang tấc.

Nhưng với sự hiểu biết của Lý Khuông về “Phi Hồng tướng quân” anh minh thần võ trước kia, ông chắc chắn sẽ luôn ôm lấy niềm tin viện binh sẽ tới mà mòn mỏi chờ đợi cho tới khi tàn hơi kiệt sức.

“Trên đường các cậu vội tới đây, có từng nghe phong phanh tin tức gì về Phi Hồng tướng quân không?” Lý Khuông vẫn không cam lòng hỏi.

Hòa Yến lắc đầu.

Nam nhân trung niên bèn cúi gục đầu xuống, buông một tiếng thở dài não nề: “Kế sách hiện giờ, cầm cự được ngày nào thì hay ngày ấy thôi.”

Hòa Yến lại hỏi: “Chẳng lẽ Lý đại nhân chỉ viết thư cầu viện mỗi Phi Hồng tướng quân thôi sao?”

“Cũng có cầu viện vài nơi khác, nhưng bọn họ đều cách Nhuận Đô quá xa, e rằng chúng ta không trụ được lâu đến lúc đó.”

Hòa Yến ngước mắt, bình tĩnh đáp: “Thực ra Lý đại nhân có từng nghĩ tới việc: phòng thủ chi bằng tấn công. Thay vì ngồi chờ chết, không bằng chủ động xuất kích.”

Lý Khuông gạt phắt: “Suy nghĩ viển vông!”

Thiếu niên nhìn ông, ánh mắt vô cùng kiên định, rực sáng như ngọn đuốc: “Không phải là suy nghĩ viển vông, mà là chờ thời cơ hành động, biến thủ thành công.”