Nữ Tướng Tinh

Trùng Sinh Chi Nữ Tướng Tinh – Chương 175

Ỷ La

“Ngọc nhân đạp tuyết phiên nhiên khứ, phi hồng kinh vân tự tại phi.” Người áo đen nghiêng đầu nhìn hắn, nói: “a còn tưởng rằng tên của ta người trong thiên hạ ai cũng đều biết.”

Phi Hồng tướng quân? Hòa Như Phi?

Trong lòng Hốt Nhã Đặc kinh hãi tột độ, buột miệng thốt ra: “Không thể nào!”

“Sao lại không thể?” Đôi mắt dưới chiếc mặt nạ nhìn chằm chằm vào hắn, khóe miệng hơi nhếch lên mang theo ý giễu cợt, “Cái gì không thể?”

Hốt Nhã Đặc là vị tướng quân dũng cảm nhất của nước Ô Thác, thế nhưng lúc nà, lại bất giác không nhịn được lùi về phía sau, vừa lùi vừa gần như điên cuồng hét lên: “Xông lên cho ta! Giết được tên này quốc chủ sẽ trọng thưởng!”

Vô số mũi tên và bóng người lao lên, nhưng người đeo mặt nạ kia lại dễ dàng tránh được từng lưỡi đao và mũi tên nhắm vào mình. Hắn như cánh hồng bay qua tuyết, mỗi lần vung cánh đều tự có trời đất riêng, không gì có thể giam cầm được. Mà kiếm phong của hắn lại như mê như mị, lượn bay xoay chuyển trong màn đêm, tựa như có thể cắt đứt cả những sợi mưa.

Hốt Nhã Đặc không thể không tin rằng đây đúng thật là Phi Hồng tướng quân Hòa Như Phi. Trong thiên hạ, ngoài Hòa Như Phi ra không ai có kiếm thuật tinh diệu đến mức này. Hốt Nhã Đặc chưa từng giao thủ với Hòa Như Phi, nhưng hắn từng nghe từ miệng người Tây Khương chiến bại kể rằng, thanh Thanh Lang kiếm của Hòa Như Phi có thể chém đứt mọi chướng ngại, dù có thể hay không thể.

Nhưng tại sao Hòa Như Phi lại xuất hiện ở đây? Hắn rõ ràng… không thể như vậy!

Chẳng lẽ đây lại là âm mưu của người Đại Ngụy? Hòa Như Phi đã lừa bọn họ? Đám người Đại Ngụy xảo trá đáng ghét!

“Ta phải giết hắn!” Hốt Nhã Đặc nghiến răng nói, quay sang hét lớn với người bên cạnh, “Lấy cung tên của ta đến đây!”

Hắn muốn đích thân bắn chết con đại ưng này, hắn muốn tận mắt nhìn tên Phi Hồng này rơi từ trên trời xuống, rớt xuống đất, cuối cùng bị hắn dẫm vào bùn.

Cung tên được đưa tới tay, hắn nhắm vào người áo đen đang bị quân Ô Thác vây giữa chém giết. Thế nhưng nhắm mãi vẫn không trúng mục tiêu, hắn gầm lên: “Đồ ngu, các ngươi lùi ra xa một chút!”

Lời vừa dứt, mũi tên trong tay lập tức bắn ra, nhưng chỉ thấy từ sâu trong bụi rậm, “vút vút vút” mấy mũi tên phóng ra, vừa khéo chặn mũi tên của hắn ngay giữa chừng.

“Còn có đồng đảng! Bắt lấy chúng!”

Ngay lúc đó, từ trong bụi rậm lại nhảy ra một nam tử đeo mặt nạ ác quỷ trên mặt, người nọ cười dài một tiếng, chỉ ném về phía người áo đen một vật trông giống cái thùng gỗ.

Người áo đen cầm kiếm chỉ giơ tay giữa không trung chộp lấy chiếc thùng gỗ, trong khi mũi tên của quân Ô Thác đã ào ạt bay tới. “Phi Hồng tướng quân” động tác cực nhanh, nhanh đến mức người ta không nhìn rõ, chỉ thấy hắn đưa thùng gỗ chắn trước mặt, tựa như tấm khiên sắt.

Mũi tên vừa bắn trúng chiếc thùng gỗ đang được dùng làm khiên liền có thứ gì đó như nước chảy tuôn ra. Khoảnh khắc Hốt Nhã Đặc nhìn thấy, trong lòng đã vội la lên không xong, quát: “Dừng tay! Tất cả dừng tay!”

Nhưng dù cung thủ lập tức ngừng động tác, mũi tên đã bắn ra thì không thể thu về. Trong chớp mắt, chiếc thùng gỗ trong tay “Phi Hồng tướng quân” đã bị bắn thành cái rây, nước từ bên trong bắn tung tóe ra, rải khắp toàn bộ trại lương thảo. Tiếp ngay sau đó, chỉ nghe thấy từ miệng người áo đen phát ra một tiếng huýt sáo, âm thanh trong trẻo vang vọng. Từ trong bụi rậm, từ bốn phương tám hướng tối tăm, lập tức có hàng chục, hàng trăm mũi tên phóng ra, mũi tên mang lửa, rơi xuống đống lương thảo đã tưới đẫm dầu trước đó, “ầm” một tiếng, lửa bùng lên tận trời.

Một lần rồi hai lần sẽ quen, chuyện phóng hỏa này không lâu trước đã từng làm một lần ở Tế Dương, Hòa Yến nay một lần nữa làm lại thấy không thể nào thuận tay hơn.

Hốt Nhã Đặc giận đến tức ngực, suýt nữa phun ra một ngụm máu tươi, chỉ còn biết ra lệnh cho mọi người, ai cứu lửa thì cứu lửa, ai giết người thì giết người. Nhưng nơi đây không phải Tế Dương, sông ngòi cũng không phải chỗ nào cũng có, chỗ đóng trại cách sông nói xa thì không xa, nhưng nói gần thì tuyệt đối cũng chẳng gần.

Tình hình hiện tại khiến Hòa Yến khá yên tâm, số dầu này là lượng dầu cuối cùng dùng để chế tạo hỏa khí của Nhuận Đô. Đêm nay tuy có mưa nhưng mưa không lớn, gió lại rất mạnh, chỉ cần thuận theo chiều gió thổi qua, không lo lửa không bùng lên. Đến cuối cùng, những doanh trại của quân U Thác đều sẽ gặp nguy.

“Ngay lúc này!” Hòa Yến cất cao giọng: “Đừng rút lui, đánh!”

Tiếng chém giết từ bốn phương tám hướng hòa cùng ánh lửa vang lên. Hốt Nhã Đặc nhìn quanh bốn phía, những người Đại Ngụy đeo mặt nạ ác quỷ từ khắp nơi xông ra vốn đã khiến binh sĩ Ô Thác hoảng loạn, sĩ khí bất ổn, lúc này lương thảo bị đốt, một số người bận rộn lấy nước cứu hỏa, đừng nói là đội hình tác chiến, ngay cả nhịp độ giết người cũng đã bị phá vỡ. Hốt Nhã Đặc suýt tức đến hộc máu.

Tất cả đều tại Hòa Như Phi!

Hòa Như Phi… Hắn nhìn khắp xung quanh nhưng không thấy bóng dáng Hòa Như Phi đâu, trong lòng chấn động, nổi giận quát: “Bắt Hòa Như Phi cho ta, ta muốn đích thân chặt đầu hắn!”

Trong doanh trại, tiếng khóc thút thít của phụ nữ vọng đến. Đột nhiên, rèm trại bị vén lên, hai gương mặt như ác quỷ xuất hiện trong trại.

Các nữ tử phát ra một tiếng “a” ngắn ngủi, chưa kịp nói gì đã bị một người trong đó bịt miệng. Người đó gỡ mặt nạ xuống, lộ ra một gương mặt hung thần ác sát với vết sẹo dao, nhưng không phải tướng mạo người Ô Thác. Hắn sốt ruột nói: “Bọn ta là người Đại Ngụy, đến cứu các ngươi đây, mặc quần áo vào, mau đi.”

Phụ nữ trong trại ai nấy đều quần áo xộc xệch, trong đó có hai người đã ngã gục trên mặt đất, sớm đã tắt thở. Giang Giao nhìn mãi, trong lòng thở dài một tiếng. Lúc đến, Hốt Nhã Đặc đang ở trong đó gây loạn, làm ra những chuyện cầm thú không bằng với nữ tù binh Nhuận Đô. Hòa Yến không thể trì hoãn việc chính là đốt lương thảo nên đã rời đi, nhưng rốt cuộc vẫn không buông xuống được. Lương thảo vừa cháy, liền sai hai người bọn họ qua xem.

Ban đầu còn thấy Hòa Yến lòng dạ quá mềm, giờ nhìn thi thể thảm thương trong trại, ngay cả Vương Bá là sơn phỉ cũng thấy không nỡ, bất giác nắm chặt tay, thầm chửi bọn Ô Thác một câu cầm thú không bằng.

Mấy nữ tử lặng lẽ theo Vương Bá hai người ra khỏi doanh trại. Binh lính Ô Thác đều tập trung ở phía lương thảo, không ai chú ý đến bọn họ. Giang Giao hỏi: “Hòa huynh một mình có chống nổi lâu như vậy không?”

Vương Bá cười lạnh: “Hắn giỏi ra vẻ anh hùng hơn ngươi ta nhiều, hắn đi cứu các tù binh khác rồi.”

Doanh trại giam tù binh Đại Ngụy nhỏ mà rách nát, gần như không che nổi mưa gió. Mấy chục nữ tử chen chúc bên nhau, quần áo rách rưới không che nổi thân, ai nấy thần sắc thê lương hoảng hốt. Trong trại tràn ngập mùi tanh của máu và mùi thối rữa, khiến người ta buồn nôn. Mỗi lần bọn Ô Thác giày vò những nữ tử này, ai chết thì quăng xuống sông, ai còn sống cũng đầy thương tích, bị ném trở lại, qua vài ngày lại tiếp tục những ngày sống không bằng chết, cứ thế cho đến khi chết mới thôi.

Đột nhiên thấy có người đến cứu, những nữ tử này vẫn chưa dám tin vào mắt mình.

“Đi thôi,” Hòa Yến nói: “Ta cứu các ngươi ra ngoài.”

Một phụ nhân đứng đầu run rẩy hỏi: “Tráng sĩ, ngài tên gì… ngài… ngài có phải là Phi Hồng tướng quân không?”

Người đeo mặt nạ không hề nhúc nhích. Chẳng bao lâu sau, hắn tháo mặt nạ xuống, lộ ra một gương mặt thiếu niên thanh tú anh tuấn, giọng nói trầm tĩnh: “Không phải, ta tên Hòa Yến, Vũ An Lang được bệ hạ đích thân sắc phong.”

……

Đội hình của binh lính Ô Thác hoàn toàn bị đánh loạn. Những người Đại Ngụy đeo mặt nạ kia không hề ham chiến, thấy lương thảo sắp cháy hết liền quay đầu lao về phía cổng thành. Trên cổng thành, dây thừng đã được thả xuống từ lâu, vô số cung thủ mai phục trên lầu thành, hễ có lính Ô Thác dám đến gần, liền dùng “tên” mượn từ tay người Ô Thác mấy ngày trước mà bắn giết chúng.

Người Ô Thác khó lòng tiến lại gần, còn những kẻ đeo mặt nạ như ác quỷ kia lại có thể toàn thân rút lui.

“Chúng mang theo đám tù binh rồi!” Có người hét lên.

Hốt Nhã Đặc giận dữ đùng đùng: “Một lũ phế vật! Đến đàn bà cũng canh không nổi!”

Binh lính Ô Thác trong lòng cũng ấm ức, ai có thể ngờ được, trong lúc sinh tử cận kề lại còn có người để ý đến mấy mụ đàn bà vô giá trị kia chứ? Chẳng qua chỉ là chiến lợi phẩm của quân địch, là thứ chỉ biết kéo chân người ta mà thôi. Nếu là ở Ô Thác, dù có cứu về được thì cũng phải giết đi, nữ nhân đã bị quân địch làm nhục không có tư cách sống trên đời.

Những phụ nữ bị bắt làm tù binh cứ ngỡ sẽ bỏ mạng trong doanh trại địch, họ thế nào cũng không ngờ được lại có người trăm phương ngàn kế để cứu họ đi.

Tâm phúc do dự lên tiếng: “Nghe nói Phi Hồng tướng quân Hòa Như Phi xưa nay không bao giờ làm hại phụ nữ, nếu có người cướp đi nữ tử của Đại Ngụy, chỉ cần hắn còn ở đó, nhất định sẽ cứu về…”

Hốt Nhã Đặc đá cho hắn một cước: “Hỗn trướng! Ta đã nói rồi, Hòa Như Phi sao có thể đến Nhuận Đô được!”

Ngoài cánh đồng phảng phất mùi lương thảo cháy khét, thỉnh thoảng có lính Ô Thác xách xô nước đến dập lửa, nhưng gió lớn lửa to, chẳng qua là công cốc. Hốt Nhã Đặc nhìn về phía thành Nhuận Đô ở xa , vô số cung thủ mai phục trên cao, thỉnh thoảng có mũi tên mang theo lửa bắn về phía này, như thể cảnh cáo.

Sắc mặt hắn trầm xuống, suýt nghiến nát răng: “Nhuận Đô… ta nhất định sẽ san bằng Nhuận Đô! Để cho già trẻ Nhuận Đô xương cốt không còn!”

……

Hòa Yến là người cuối cùng lên tường thành.

Phải hộ tống những phụ nữ kia bám dây thừng lên trước, Hòa Yến ở dưới chân thành giao thủ với bọn lính Ô Thác. Đợi đến khi cuối cùng có cơ hội quay về thành, dù cung thủ đã dùng tên bắn ép lính Ô Thác lùi lại, nhưng trên người nàng rốt cuộc vẫn bị thương.

Có chiến tranh ắt có hy sinh, giữ được mạng sống đã là rất tốt rồi.

Những người phụ nữ may mắn thoát chết từ doanh trại địch ngồi thẫn thờ trên lầu thành, mãi đến khi phía xa không còn nghe thấy tiếng tù và của người Ô Thác nữa, mới dần tỉnh lại. Từ từ lấy hai tay che mặt, khóc nức nở.

Sau cổng thành, những binh lính Nhuận Đô sớm gỡ bỏ mặt nạ trên mặt đang tập trung ở đây. Một đêm đột kích, mọi thứ đều căng thẳng tột độ, chỉ đến lúc này dường như họ mới thực sự hiểu được chuyện gì đã xảy ra. Có người khóc, có người lại cười, hét lớn: “Chúng ta đã đốt lương thảo của bọn chúng! Lũ Ô Thác bị chúng ta đánh cho ngơ ngác, hahaha, chúng ta thắng người Ô Thác rồi!”

Nói là thắng tất nhiên là quá lời, nhưng trận đột kích đêm qua quả thực đã thắng, hơn nữa là đại thắng. Binh mã tử thương của người Ô Thác tạm thời chưa rõ nhưng năm trăm tinh binh Hòa Yến mang theo, hy sinh bốn mươi sáu người, hai trăm bảy mươi ba người bị thương. Đối với người Nhuận Đô đã cố thủ hơn một tháng trời, đây đã là kết quả tốt nhất có thể.

Lý Khuông không thể tin nổi nhìn nhóm tinh binh đứng ngồi la liệt khắp mặt đất, lẩm bẩm: “Thật không ngờ lại làm được.”

Khi Hòa Yến dẫn theo nhóm nhân mã này ra đi, trong lòng Lý Khuông thực ra không hề tán đồng. Ông gần như đã chuẩn bị sẵn tinh thần rằng Hòa Yến cùng mấy trăm người kia sẽ không một ai sống sót trở về, chẳng qua chỉ là đi tìm cái chết. Còn chuyện đốt lương thảo của người Ô Thác, Lý Khuông cũng cho rằng khả năng cực kỳ nhỏ.

Thế nhưng chính những chuyện mà trong mắt ông là không thể, giờ đây lại hoàn toàn trở thành hiện thực. Bọn họ thậm chí còn mang về cả những tù binh bị người Ô Thác bắt đi bên ngoài thành.

Trong lòng Lý Khuông bỗng nhiên bùng lên tia hy vọng mới. Bấy lâu nay, ông không cho rằng binh mã ở Nhuận Đô có thể chống chọi nổi với người Ô Thác. Ông chỉ nghĩ rằng phải tử thủ cổng thành, chờ đợi viện binh. Nhưng giờ đây Hòa Yến lại khiến ông nhìn thấy một khả năng khác, nếu quân Ô Thác cũng không thể cầm cự được nữa thì sao? Người Ô Thác mất lương thảo, không thể trụ được bao lâu, ưu thế của chúng đã không còn. Hiện tại chẳng qua chỉ dựa vào lợi thế về quân số, mà quân số… vị Vũ An Lang trẻ tuổi Hòa Yến kia, chẳng phải đã đánh thắng hai trận lấy ít địch nhiều rồi sao?

Nghĩ đến đây, Lý Khuông xúc động nhìn về phía Hòa Yến, thấy thiếu niên ấy tựa lưng vào tường thành mà ngồi, mặt nạ còn chưa kịp tháo, đang nhìn về phía những người phụ nữ được giải cứu đang ôm nhau khóc nức nở. Lý Khuông không nhìn thấy thần sắc của Hòa Yến, nhưng có thể thấy nụ cười nơi khóe miệng cậu.

Cậu ấy rất mãn nguyện.

Trong khoảnh khắc, hình ảnh trước mắt Lý Khuông bỗng trùng khớp với hình ảnh trong quá khứ. Ông vẫn còn nhớ khi cùng Hòa Như Phi, lúc đó vẫn còn là phó tướng, đánh chung một trận, người ấy cũng y như vậy, lặng lẽ ngồi trên đất, nhìn những binh sĩ kẻ khóc người cười. Sự sắc bén trên chiến trường được thu liễm hết thảy, dịu dàng đến khó tin.

Cậu ta thật giống Hòa Như Phi, Lý Khuông thầm nghĩ, chính xác hơn, là giống Hòa Như Phi của ngày xưa, Hòa Như Phi của năm ấy.

“Cậu thế nào rồi?” Lý Khuông bước đến.

Hòa Yến ngẩng đầu nhìn ông, khóe miệng nhếch lên, “Vẫn ổn, chỉ hơi mệt.”

Suốt cả đêm, Hòa Yến và đám tinh binh đều chưa được nghỉ ngơi, Lý Khuông liền nói: “Nghỉ ngơi một chút đi.”

Hòa Yến gật đầu đứng dậy, rồi nghĩ đến điều gì đó, nói với Lý Khuông: “Những phụ nữ được cứu về, phiền Lý đại nhân sai người hỏi thăm xem họ có còn người thân trong thành không. Nếu có, xin phiền cho người nhà đến đón họ về. Nếu không còn ai thân thích, cũng xin đại nhân sắp xếp cho họ ổn thỏa.”

Lý Khuông hơi nhíu mày, không nói gì.

Hòa Yến dường như nhìn ra điều ông đang nghĩ, nói: “Bất kể Lý đại nhân nghĩ thế nào, nhưng họ đều là người Đại Ngụy, cũng là dân chúng của Nhuận Đô. Đại nhân đã là thành tổng binh, thì không thể ngồi nhìn mà không quản. Người trên chiến trường, chức trách chẳng qua là bảo vệ bách tính trên từng tấc đất quốc gia, không phân biệt giàu nghèo sang hèn, cũng không phân biệt họ đã gặp phải chuyện gì.”

Nàng nhìn chằm chằm vào Lý Khuông, dường như kiên quyết đòi ông phải cho nàng một câu trả lời. Lý Khuông trầm ngâm một lát, đáp: “Ta biết rồi.”

Hòa Yến gật đầu với hắn: “Đa tạ.”

Nàng tự mình bước xuống thành.

……

Hòa Yến ở trong ngôi nhà do Triệu Thế Minh sắp xếp. Nàng hiện là Vũ An Lang, nhờ đặc quyền của Vũ An Lang mà có thể ở riêng một gian phòng.

Nàng hỏi người hầu trong nhà lấy một chậu nước nóng, rồi vào phòng. Người hầu nhanh chóng chuẩn bị nước nóng mang vào, Hòa Yến khóa cửa lại, tháo mặt nạ xuống, kéo y phục ra.

Trên lưng, vai và cánh tay đều bị thương, một số là vết dao sượt qua, một số là vết thương do tên bắn. Đêm qua nàng vừa đứng chắn ở tuyến đầu, lại còn đi đốt lương thảo của người Ô Thác, hàng trăm mũi tên bắn tới, muốn toàn thân rút lui mà không dính thương là điều không thể. Được như bây giờ đã là rất tốt rồi.

Nàng nhúng khăn vào nước nóng, từng chút từng chút lau qua các vết thương. Vết thương trên lưng và vai là sâu nhất, còn vết thương ở eo trước đó thì đã lành gần hết, nhờ có cao trừ sẹo sinh cơ của Lâm Song Hạc.

Lần này đến Nhuận Đô, nàng lại mang theo phần cao trừ sẹo sinh cơ còn lại bên mình. Bôi hết cho vết thương ở vai và eo, trong hộp không còn lấy ra được chút nào nữa.

Thay xong bộ quần áo sạch sẽ, nàng nhìn vào bản thân trong gương. Thiếu niên trong gương sắc mặt trắng bệch. Mặt nạ và y phục đen có cái hay lớn nhất chính là chúng binh sĩ không nhìn thấy vết máu và thương tích, cũng nhìn không rõ mặt nàng. Vĩnh viễn tinh thần phấn chấn, vĩnh viễn lao về phía trước, vĩnh viễn là người cổ vũ sĩ khí, ổn định quân tâm.

Hòa Yến nhìn cánh tay mình, tay áo xắn lên một nửa, trên cánh tay lộ ra còn một vết thương do đao chém. Tuy nhiên bột thuốc nàng mang theo đã dùng hết, đang định lấy vải trắng băng lại thì bên ngoài có người gõ cửa, là giọng nữ: “Tiểu Hòa đại nhân.”

Hòa Yến đáp: “Mời vào.”

Bước vào là một nữ tử xinh đẹp, trên mặt cười tươi rói, má trái có một lúm đồng tiền nhỏ xíu, khiến vẻ kiều mị của nàng ta thêm vài phần hoạt bát. Nàng đi đến, đưa cho Hòa Yến một lọ tròn tròn, mỉm cười nói: “Lúc nãy thiếp thấy Tiểu Hòa đại nhân vào rồi xin người hầu lấy nước nóng, đoán là Tiểu Hòa đại nhân bị thương. Đây là thuốc kim sang lão gia dùng thường ngày còn thừa lại, thiếp mang đến đây.” Ánh mắt nàng ta rơi lên vết đao trên cánh tay Hòa Yến, kêu “Á” một tiếng, “Tiểu Hòa đại nhân, ngài thật sự bị thương rồi sao?”

Hòa Yến mỉm cười: “Chỉ là vết thương nhỏ thôi, không sao.”

“Vậy không được đâu.” Nữ tử này tự nhiên như người quen, bước lên phía trước muốn lại gần, dường như lại nhận ra thân phận đặc biệt, không dám đến quá gần, đứng ở một bên khuyên nhủ: “Thương nhỏ không trị, sẽ kéo thành thương lớn đấy. Lão gia nhà thiếp chính là như vậy, có lúc trên chiến trường bị thương, lười không thèm xử lý, đến sau này biến thành thương cũ, muốn lành cũng khó.”

Hòa Yến nhìn gương mặt trẻ trung xinh đẹp của nữ tử, trong lòng nhất thời cảm khái. Nàng quen biết cô nương này, đây là thiếp thất được Lý Khuông sủng ái nhất, tên gọi Ỷ La. Năm đó nàng cùng Lý Khuông ở đây đối phó người Tây Khương, Ỷ La đã rất thân với nàng. Cô nương này đặc biệt lanh lợi khéo léo, rất biết cách lấy lòng Lý Khuông, lúc ấy trong lòng Hòa Yến đã nghĩ, nếu nàng là nam tử, chỉ sợ cũng sẽ hết lòng hết dạ sủng ái một nữ tử như vậy.

Năm đó Ỷ La mới mười sáu tuổi, tuổi còn rất nhỏ, khuôn mặt tròn trịa. Ba bốn năm trôi qua, nàng ấy đã trưởng thành hơn, vẻ ngây thơ biến mất, khuôn mặt tròn cũng biến thành mặt trái xoan, chỉ có lúm đồng tiền trên má trái và nụ cười ngọt ngào ấy vẫn chưa hề thay đổi.

“Tiểu Hòa đại nhân, ngài nhìn thiếp làm gì thế?” Ỷ La sờ sờ mặt mình, mắt đảo một vòng, giọng trong trẻo nói: “Thiếp xinh đẹp lắm, đại nhân nhà thiếp sủng ái nhất chính là thiếp đấy.”

Hòa Yến nhịn không được bật cười thành tiếng. Ỷ La năm đó đã thích khoe khoang câu này, đến giờ vẫn thích khoe khoang câu này. Chỉ riêng câu nói ấy như khiến nàng trở về thuở trước.

“Ngài cười gì thế?” Ỷ La hỏi: “Chẳng lẽ thiếp xấu xí lắm sao?”

“Không, không,” Hòa Yến xua tay, “chỉ là nhớ lại một chút chuyện cũ thôi.”

Năm đó vì Ỷ La quá đỗi đáng yêu lanh lợi, Hòa Yến luôn nhịn không được mà coi nàng như muội muội trong nhà. Tuy nàng có Hòa Tâm Ảnh là muội muội ruột, nhưng vì quan hệ chằng chịt phức tạp trong Hòa gia nên Hòa Tâm Ảnh và nàng chẳng hề thân thiết. Thuở ấy thấy Ỷ La sinh đẹp, tính tình lại ngoan ngoãn lanh lợi, Hòa Yến chỉ thấy tiếc cho nàng ấy, một cô nương như vậy, nếu muốn lấy chồng thì cũng nên tìm một chàng trai trẻ tuổi xứng đôi vừa lứa mới phải. Còn Lý Khuông, không phải Hòa Yến coi thường vị đồng liêu này, thực sự là tuổi tác của Lý Khuông đủ làm cha Ỷ La rồi, tính cách lại nghiêm túc thô cằn, chẳng hề ân cần hay chu đáo, cũng không biết Ỷ La thích ông ta điểm gì.

Lúc đó Ỷ La chống cằm cười “khúc khích”, nói với Hòa Yến: “Nhà thiếp toàn là người hầu kẻ hạ, Hòa phó tướng, những thanh niên tài tử có tài có sắc ấy sao có thể lấy kẻ hầu làm vợ được. Nếu gả cho gia nô khác làm vợ, sinh con ra sau này cũng lại làm tôi tớ cho người ta. Hơn nữa làm người hầu, ngửa mặt nhìn sắc mặt kẻ khác, lỡ không cẩn thận chọc giận chủ nhân là mất mạng, có gì tốt đẹp đâu.”

“Vẫn là theo lão gia tốt hơn, ăn no mặc ấm, thiếp chỉ cần chiều lòng mỗi mình lão gia thì không còn sợ ai bắt nạt nữa. Những điều ngài nói đều là hư ảo, thiếp chỉ coi đây là một công việc, làm thiếp thất cho lão gia, công việc này còn nhàn hơn những việc ngài nói. Hơn nữa lão gia tính tình thẳng thắn, không thích vòng vo quanh co, thiếp theo ông ấy cũng chẳng cần đấu đá tranh giành, tốt lắm.”

“Hòa phó tướng, ngài và lão gia đều là người bảo vệ trăm họ Đại Ngụy, là anh hùng. Thiếp làm thiếp thất cho lão gia, chính là nữ nhân của anh hùng, thiếp thấy điều này chẳng có gì không tốt cả, thiếp bây giờ sống tốt hơn trước rất nhiều rồi. Đời này thiếp cũng chẳng có tâm nguyện gì lớn lao, chỉ mong mười năm sau, thiếp vẫn là thiếp thất được lão gia sủng ái nhất. Mong mười năm sau thiếp cũng chưa đến nỗi già nua phai sắc, cũng không có con hồ ly tinh nào đến tranh giành sự sủng ái và thương xót của lão gia với thiếp, nếu được như vậy, thiếp cảm tạ Quan Âm Nương Nương lắm rồi.”

Hòa Yến lúc ấy liền cảm thấy, cô gái này cũng khá thông suốt, cầu nhân đắc nhân, mỗi người đều có suy nghĩ riêng. Cuộc sống của Ỷ La như vậy, bản thân nàng thấy vui vẻ hạnh phúc là được rồi.

Giờ nhìn lại, mười năm thì không biết, nhưng qua ba năm, xem ra nàng vẫn là thiếp thất được Lý Khuông sủng ái nhất, đến Nhuận Đô cũng mang theo bên mình.

Nàng cúi đầu mỉm cười, lấy bột thuốc Ỷ La mang đến rắc lên vết thương trên cánh tay. Ỷ La tò mò nhìn, nhịn không được hỏi: “Tiểu Hòa đại nhân, trông ngài tuổi cũng không lớn, sao lại giống lão gia nhà thiếp, lúc bôi thuốc đều không hề kêu một tiếng vậy? Chẳng lẽ võ tướng đánh trận các ngài đều không biết đau sao?”

“Cũng không phải không đau,” Hòa Yến đáp, “Ta nghĩ lão gia nhà ngươi lúc bôi thuốc chắc hẳn rất đau, chỉ là trước mặt cô nương, ngại mở miệng kêu ra thôi.”

Ỷ La bật cười: “Tiểu Hòa đại nhân, ngài nói chuyện thật có ý tứ.”

Hòa Yến bôi xong thuốc, đưa lọ trả lại cho Ỷ La, nói: “Ỷ La cô nương, đa tạ thuốc của cô nương.”

Ỷ La nhận lấy lọ thuốc, không vội rời đi, chỉ nhìn Hòa Yến, nói: “Tiểu Hòa đại nhân, chỉ chút thuốc trị thương thôi, không cần cảm tạ, người cần nói cảm ơn là thiếp mới đúng.”

“Cảm ơn gì?”

“Cảm ơn ngài đêm qua nghĩ ra diệu kế đốt cháy lương thảo của người Ô Thác, thay bọn thiếp trút ra một hơi uất ức. Cũng cảm ơn ngài đã cứu những nữ tử ấy.”

Nàng cúi đầu, bật cười có phần bất đắc dĩ: “Ta biết những nữ tử bị người Ô Thác bắt đi, nếu đêm qua không phải là ngài thì họ căn bản không thể sống mà trở về Nhuận Đô. Không ai quan tâm đến tính mạng của họ, cho dù là lão gia đích thân dẫn quân đi thì cũng sẽ chẳng đoái hoài đến sống chết của họ, nhưng ngài thì khác.” Nàng nhìn về phía Hòa Yến, đôi mắt sáng long lanh, “Ngài đã đưa họ trở về, một người cũng không bỏ sót. Ta trước đây vẫn nghĩ, sao lại có người trẻ tuổi như vậy mà được bệ hạ ngự phong làm quan? Chắc hẳn là ngài ở chiến trường trước đó gặp may chiếm được chút hời mà thôi, nhưng giờ thiếp thân không nghĩ như vậy nữa, ngày không giống bọn họ, ngài là người tốt, là anh hùng thực sự.”