Nữ Tướng Tinh

Trùng Sinh Chi Nữ Tướng Tinh – Chương 174

Phi Hồng

Đêm ấy, mưa bụi lất phất rơi, gió bỗng nổi lên, những sợi mưa mang theo hơi lạnh se sắt, rơi vào giữa cánh đồng hoang mênh mông.

Nhiều ngọn đuốc gần doanh trại bị gió thổi tắt, binh lính Ô Thác chửi thề mấy tiếng. Khi đóng quân ngoài trời, trời nắng bao giờ cũng dễ chịu hơn trời mưa. Nhất thời, ánh mắt bọn chúng nhìn về phía thành lại thêm vài phần hung tàn tham lam. Bọn người Nhuận Đô được ở trong nhà che mưa chắn gió, nghe nói Kim Lăng còn có vô số lụa là mỹ nhân, đợi đến Sóc Kinh thì thứ tốt càng không đếm xuể. Một phi tử bình thường trong hoàng cung Sóc Kinh, ăn mặc tiêu dùng còn hơn cả đại thần nước Ô Thác.

May là chẳng bao lâu nữa thôi, đợi đại nhân Hốt Nhã Đặc hạ lệnh tổng công, chủ nhân thành này sẽ là bọn họ.

Binh lính Ô Thác nhìn cửa thành đóng chặt như lũ thú dữ nhìn miếng thịt béo, mắt đầy thèm thuồng.

Lúc này, một sợi dây thừng buông thõng xuống, trong màn đêm, trên dây lắc lư treo một bóng người. Chẳng bao lâu, nhiều sợi dây thừng đồng loạt xuất hiện, mỗi sợi đều treo mấy bóng người.

Binh lính Ô Thác tuần tra nói: “Mau đi báo tướng quân, bọn người Nhuận Đô lại thả hình nộm cỏ xuống rồi!”

Hốt Nhã Đặc đang uống rượu trong doanh trại, nghe thuộc hạ truyền tin tới, cười lạnh một tiếng: “Còn tưởng thật là ta ngày ngày tặng tên cho bọn chúng chắc! Bảo mọi người bắn vài mũi là được, nhiều hơn thì dù có gãy cũng không cho mấy tên xương mềm Đại Ngụy!”

Thuộc hạ nhận lệnh rời đi.

Dây thừng hơi lắc lư, Hòa Yến là người đầu tiên xuống thành lâu, nàng động tác cực nhanh, chỉ trong chớp mắt, chân đã chạm đất. Chưa kịp đứng vững, nghe phía trên đầu vang lên mấy tiếng “vút vút” phóng tên, trong lòng chợt thắt lại, quân Ô Thác bắn tên rồi.

Điều này thực ra nằm trong dự liệu của nàng. Trước đó, nàng đã cho người thả hình nộm cỏ hai lần, nhưng không tránh khỏi việc quân Ô Thác cảnh giác, thỉnh thoảng bắn vài mũi tên dò xét. Những mũi tên này có thể bắn trượt, cũng có thể cắm vào người mấy binh sĩ, nhưng… không có tiếng động nào.

Ngoài tiếng mưa và tiếng gió, không nghe thấy bất cứ âm thanh gì. Như nàng đã nói, dù đau đến mấy cũng phải nhịn, chỉ có biến mình thành “hình nộm cỏ”, quân Ô Thác mới tin rằng trên những sợi dây thừng buông từ thành lâu xuống, buộc chính là “hình nộm cỏ”.

Bên cạnh vang lên tiếng động khẽ, hai bên đều có người theo xuống. Năm trăm tinh binh sẽ nhanh chóng toàn bộ hạ xuống mảnh đất này. Thời gian gấp rút.

May mắn thay, quân Ô Thác sau khi bắn vài mũi tên lúc đầu, về sau không còn động tĩnh gì nữa. Đại khái vì không nghe thấy tiếng nào, nên chắc mẩm hôm nay cũng giống mọi lần, là trò “mượn tên” của Lý Khuông, không chịu mắc bẫy nữa. Đến một khắc sau, tất cả nhân mã đã tập hợp đầy đủ.

Trong năm trăm người, bị thương vì tên của quân Ô Thác tổng cộng ba người, may mà đều không trúng chỗ hiểm. Hòa Yến lệnh cho ba người này bám dây thừng trở về thành, số còn lại theo nàng cùng lén vào doanh trại quân Ô Thác.

Mưa đêm trở thành tấm màn che chắn tốt nhất, màn mưa phủ kín tất cả, trời đất vạn vật đều chìm trong bóng tối mịt mùng.

Gần doanh trại, lính tuần tra đang giơ ngọn đuốc chực tắt đi tới. Binh mã Ô Thác khá lỏng lẻo, hẳn là vì cho rằng trận chiến này chắc thắng, cũng không tin với chút binh mã ít ỏi của Nhuận Đô lại dám tự chui đầu vào lưới đến đánh lén, ngay cả lính tuần tra cũng tuần không mấy nghiêm túc.

Đồng hoang mênh mông trống trải, không có lấy một bụi cây để ẩn nấp, chỉ có những bụi cỏ thấp lè tè và đá tảng rải rác. Người Ô Thác chọn nơi đóng trại cũng khá khôn ngoan, địa hình như thế này chẳng giấu được ai. Nhưng ngược lại, ở nơi như vậy, lương thảo của chúng cất giấu ở đâu cũng rất dễ tìm ra.

Hòa Yến ra hiệu cho những người phía sau, toàn bộ tinh binh theo như nàng đã dặn dò trước đó, mỗi người tự tìm cách thâm nhập vào các doanh trại xung quanh.

Phải tìm được nơi chứa lương thảo trước. Hòa Yến vẫy tay, Giang Giao và Vương Bá cùng một đội người đi theo hành động của nàng. Đều là người xuất thân từ Lương Châu Vệ, quen biết nhau, hiểu ý phối hợp, để họ đi tìm nơi cất giữ lương thảo rồi đốt sạch là cách tốt nhất.

Một tên lính Ô Thác ngồi trước trướng uống rượu. Người Ô Thác thô lỗ man rợ, thích uống rượu mạnh, vừa chê rượu nho của Nhuận Đô ngọt lịm quá đỗi, chẳng ra dáng rượu, vừa lại tiếc không nỡ buông tay. Rượu đựng trong bình sứ tinh xảo bị chúng ngửa cổ đổ vào miệng, rồi tiện tay ném xuống chân không chút luyến tiếc. Rượu nho tuy ngọt nhưng cũng là rượu, chẳng bao lâu đã dâng lên chút hơi men ngà ngà say.

Hắn loạng choạng đứng dậy, đi ra bụi cây bên rìa khoảng trống, cởi quần định giải quyết nỗi buồn. Đang đi được nửa chừng, bỗng nhiên cảm thấy có người vỗ lên vai mình. Hắn tưởng là mấy tên lính khác đi theo, bực bội quay đầu lại, liền thấy một khuôn mặt ác quỷ chình ình ngay sau lưng, nhe răng cười với hắn một cách âm u quỷ dị.

Khi con người sợ hãi đến cực điểm, ngay cả tiếng kêu cũng không phát ra nổi. Tên Ô Thác này cũng vậy, đầu óc trống rỗng trong khoảnh khắc, chỉ cảm thấy toàn thân lạnh buốt. Chữ “quỷ” còn chưa kịp thốt ra khỏi miệng, trước mắt đã lóe lên một tia hàn quang.

“Bịch” một tiếng nhẹ, đầu hắn rơi xuống đất.

Người đeo mặt nạ ngồi xổm xuống, kéo xác hắn vào sâu trong bụi rậm. Chẳng bao lâu, bên ngoài không còn dấu vết gì của tên Ô Thác, một bóng đen mới lặng lẽ lướt vào doanh trại.

Cùng lúc đó, trong khu đóng quân của người Ô Thác, vô số “ác quỷ” xuất hiện, lặng lẽ cướp đi sinh mạng của hàng loạt binh sĩ. Những tên Ô Thác trước khi chết còn chẳng biết mình chết dưới tay ai, chỉ nhớ khuôn mặt quỷ đột ngột hiện ra trong bóng tối, ghê rợn khủng khiếp.

Lại thêm một tên Ô Thác ngã xuống, bị kéo vào trướng không người, bị sắp đặt ngồi gục đầu như đang ngủ. Hai người đeo mặt nạ gật đầu với nhau, trong mắt thoáng qua một tia khoái ý.

Năm trăm người, ngoại trừ Hòa Yến ra, năm trăm chiếc mặt nạ ác quỷ. Thiếu niên mặc hắc y thần sắc lạnh lùng đã nói với họ: “Người Ô Thác tin vào quỷ thần, tin vào luân hồi. Chúng giết người không ghê tay, ác sự làm đầy, nhưng lại nhà nhà thờ phụng tượng Phật. Nếu chúng ta tập kích ban đêm, ai nấy đều đeo mặt nạ ác quỷ mặt xanh nanh dài, đột ngột xuất hiện trong bóng tối, người Ô Thác trong lòng có quỷ, ắt sẽ kinh hoàng. Trong lúc hoảng loạn, sĩ khí dễ tan, đó chính là thời cơ của chúng ta.”

Giờ nhìn lại quả đúng như vậy. Không ngờ những kẻ man di Ô Thác vốn luôn tự xưng gan lớn dũng mãnh, hóa ra cũng sợ mấy thứ quỷ thần này.

Ý tưởng của Hòa Yến thực ra bắt nguồn từ chiếc mặt nạ “Ly Hoảng” trong lễ hội Thủy Thần ở Tế Dương. Chỉ một chiếc mặt nạ “Ly Hoảng” xấu xí thôi đã khiến người Tế Dương thành ghê tởm xa lánh. Vậy thì đối với người Ô Thác, nỗi kinh hoàng của ác quỷ sẽ đủ để khiến chúng lung lay quân tâm.

Doanh trại của người Ô Thác dựng cách nhau khá xa, trướng của binh lính bình thường và trướng của phó tướng, thống lĩnh cũng có khoảng cách. Khi Hòa Yến đi ngang qua một đại trướng trông đặc biệt rộng rãi xa hoa, nàng nghe thấy từ bên trong vọng ra tiếng kêu khóc đau đớn của một nữ nhân.

Ánh đèn le lói trong doanh trướng hắt ra bóng người bên trong, lờ mờ có thể thấy một phụ nhân đang giãy giụa, một nam tử mặt mày hung tợn, kèm theo tiếng cười đùa phóng túng của người Ô Thác và tiếng khóc của nữ tử, nghe mà rợn cả người. Hòa Yến vô thức dừng bước, nhìn vào trong trướng.

Giang Giao bên cạnh giật mình.

Bọn họ vẫn chưa tìm được nơi chứa lương thảo, nếu lúc này Hòa Yến không nhịn được mà ra tay, mọi thứ sẽ đổ sông đổ bể. Khi đó, người chết oan không chỉ là những phụ nhân Nhuận Đô bị bắt, mà còn có cả đội tiên phong theo đến đây liều mạng hôm nay.

Dù hắn cũng rất thương cảm cho những nữ tử này. Nhưng trong loạn thế, nữ tử không có khả năng tự bảo vệ mình, một khi bị bắt thì chỉ có thể trở thành vật giải trí cho quân địch.

Thạch Đầu cũng lo lắng, nhẹ nhàng kéo kéo vạt áo Hòa Yến. Hòa Yến rời mắt đi, khoát tay một cái, ra hiệu cho mọi người tiếp tục tiến về phía trước.

Giang Giao thầm thở phào, với tính cách đầy chính nghĩa của Hòa Yến, hắn thực sự sợ nàng sẽ bất chấp tất cả xông vào trong mà lộ thân phận.

Tiếng khóc của nữ tử dần xa đi, nhưng lại dường như chưa hề xa, vẫn quẩn quanh bên tai mỗi người. Mọi người đều hiểu rõ trong lòng, nếu đêm nay không đốt được lương thảo của người Ô Thác, không đánh cho chúng một trận bất ngờ, thì chẳng bao lâu nữa, thành Nhuận Đô bị phá, khắp nơi sẽ vang lên tiếng khóc như đêm nay.

Chiến tranh tàn khốc là vậy.

Lại lén tiến về phía trước một đoạn, quân Ô Thác tuần tra xung quanh nhiều hơn hẳn, cầm đuốc đi đi lại lại gần đó. Doanh trướng của binh sĩ quanh vùng này cũng ít đi nhiều, có một chiếc trướng rất lớn, bên ngoài đỗ mấy chục cỗ xe ngựa.

Hòa Yến cùng Vương Bá và mọi người dừng bước, ẩn mình trong bụi cây phía sau.

Đây chính là nơi người Ô Thác tích trữ lương thảo.

Nhiều lương thảo như vậy, nếu chở về Nhuận Đô, có thể giải được bao nhiêu cơn nguy cấp trước mắt. Những binh sĩ kia không cần phải đói đến vàng da xám mặt, bách tính trong thành cũng không cần khắp nơi bắt chuột, nhổ cỏ dại mà ăn. Nhưng Hòa Yến cũng hiểu rõ, bọn họ căn bản không thể mang đi được số lương thảo này, nếu tham lam, kết quả tất yếu là không ai có thể rời đi, vừa không mang được một phần lương thảo nào, lại còn bỏ mạng mấy trăm người tại đây.

Đạo chiến tranh cũng là đạo lấy bỏ. Muốn thắng, phải biết buông.

Quân Ô Thác canh giữ lương thảo rất cảnh giác, thỉnh thoảng lại ngẩng đầu nhìn quanh, ánh đuốc chiếu sáng rực cả vùng, căn bản không thể như lúc trước lẻn đến gần mà phóng hỏa.

“Làm sao đây?” Thạch Đầu ra hiệu hỏi.

Điểm này, Hòa Yến đã sớm nghĩ tới. Nàng chỉ về phía trước, rồi lại chỉ vào mình, nhắm thẳng vào nơi chứa lương thảo.

Đây là cách thứ hai mà bọn họ đã bàn bạc trước khi xuất phát. Nhưng cách này, đối với Hòa Yến mà nói, quá đỗi nguy hiểm.

Thạch Đầu còn đang do dự, Hòa Yến mỉm cười, bảo hắn giơ tay ra, rồi tự mình duỗi ngón trỏ viết chữ trên lòng bàn tay hắn. Mọi người nhìn kỹ, thấy nàng nào phải viết chữ, mà là phác họa mơ hồ một ngọn đồi, cắm một lá cờ.

Nàng muốn mọi người nhớ lại cảnh cướp cờ năm ấy.

Ngày đó ở Lương Châu Vệ, tham gia cướp cờ trên núi Bạch Nguyệt cũng chính là năm người bọn họ. Lúc ấy mới huấn luyện chưa bao lâu, ngay cả người Ô Thác trông như thế nào cũng chưa từng thấy, càng chưa bao giờ biết chiến trường thực sự là gì, vậy mà trên ngọn núi ấy, hai mươi lá cờ, đã bị bọn họ thu gọn hết thảy vào tay.

Cướp thì phải ra dáng cướp, chẳng qua đối tượng họ cướp giờ đây không còn là huynh đệ ở Lương Châu Vệ nữa, mà là lũ Ô Thác đáng hận hung ác kia. Thứ họ tranh cũng không phải hai mươi lá cờ chẳng đau chẳng ngứa, mà là lương thảo mà người Ô Thác xem như bảo bối. Điều họ cầu cũng không phải vinh quang nhỏ nhoi của một vệ sở, không phải vị trí số một khiến họ hư vinh nở mặt, mà là sinh cơ của vạn dân một thành Nhuận Đô.

Năm người, chỉ cần đồng tâm hiệp lực, năm xưa làm được, bây giờ cũng vậy.

Ý cười từ đôi mắt sau mặt nạ dần lan ra, Hòa Yến nhẹ nhàng đập tay với từng người, rồi dẫn đầu biến mất trong màn đêm.

……

Gió mạnh hơn lúc nãy, những sợi mưa xiên xéo quất lên người, thấm ra một vùng lạnh ngắt.

“Vừa nãy ngươi có nghe thấy tiếng gì không?” Một tên lính Ô Thác đi tuần hỏi đồng bạn bên cạnh.

“Tiếng gió thôi.” Đồng bạn hắn trả lời chẳng mảy may bận tâm, giễu cợt hắn, “Sao, ở ngoài thành Nhuận Đô lâu quá, ngay cả ngươi cũng trở nên nhát gan như người Đại Ngụy rồi sao?”

Tên lính Ô Thác không đáp, chỉ nghi hoặc nhìn về phía xa. Vừa nãy, hắn dường như nghe thấy một tiếng hô hào ẩn ẩn. Hắn lại nhìn quanh bốn phía, hỏi: “Lính tuần tra cầm đuốc của chúng ta có phải ít đi mấy người không?”

Lính Ô Thác đều ngủ trong doanh trướng, người đi tuần thì canh gác bên ngoài. Mưa đêm dù có dập tắt vài ngọn đuố, nhưng cũng không đến nỗi cả người cũng bị dập tắt theo. Hắn bước tới, vừa hay đến trước một doanh trướng, gió thổi cỏ dại bên ngoài trướng xào xạc, cũng mang theo một mùi kỳ lạ. Mùi này hắn không hề xa lạ, thậm chí quen thuộc đến không thể quen thuộc hơn. Mỗi ngày trong trại tù binh, ngoài trang viên thành Nhuận Đô, bọn họ đã vô số lần cảm nhận thứ mùi này.

Đó là mùi máu tanh.

Tên lính Ô Thác giật mình, hắn giơ đuốc, đứng trước trướng, do dự một lát mới bước vào. Nhưng thấy trong trướng mùi máu tanh càng nồng hơn, mọi người đều nằm sấp dưới đất, tựa như đang say giấc.

Nếu bỏ qua vũng máu lớn trên mặt đất.

“Có người…Có quân địch…Người Đại Ngụy đột kích doanh trướng…” Tên lính tuần còn chưa hét hết câu bỗng thấy trong bóng tối lóe lên một tia đao quang, ngay sau đó, hắn cảm thấy cổ lạnh buốt, thân thể đổ rạp xuống đất.

Đuốc cũng rơi trên mặt đất, hắn gắng sức xoay tròng mắt, trong tầm nhìn, thấy một khuôn mặt quỷ xanh nanh nhọn, âm trầm nhìn hắn.

……

Tiếng tù và vang vọng khắp cánh đồng ngoài thành Nhuận Đô, vô số lính Ô Thác giật mình tỉnh giấc.

“Người Đại Ngụy tập kích doanh trướng trong đêm!”

Đêm tối cùng mưa gió che lấp mùi máu tanh, khi mọi người dậy kiểm tra, mới phát hiện đã có rất nhiều lính Ô Thác trong các doanh trướng bị người ta lấy mạng ngay trong giấc ngủ. Máu chảy ra ngoài trướng, hòa vào bùn đất trên cánh đồng, cùng với những sợi mưa, tưới lên mảnh đất Đại Ngụy.

Hốt Nhã Đặc rút trường đao bên hông, nghiến răng giận dữ: “Người Đại Ngụy dám tập kích ban đêm, dũng sĩ Ô Thác tất khiến chúng có đi không về, giết sạch người Đại Ngụy cho ta!”

Sát khí bùng lên bốn phía, ánh đao kiếm sáng loáng, từ phía doanh trướng truyền đến một tràng tiếng hô giết chém kịch chiến.

“Quỷ, quỷ, có quỷ!” Đó là tiếng thét kinh hoàng của quân Ô Thác.

“Ma quỷ ở đâu? Đó là bọn người Đại Ngụy!”

“Không… là ma quỷ!”

Những người mặc đồ đen từ bốn phương tám hướng ùa ra, mặt như ác quỷ, thần tình hung tợn, xuất hiện bên cạnh người Ô Thác không một tiếng động, dễ dàng thu hoạch sinh mạng của chúng. Người Ô Thác vốn hung tàn hiếu sát, nhưng thấy ác quỷ hiện hình trong đêm đen, sĩ khí bị đánh tan, lập tức rơi vào hỗn loạn.

Hốt Nhã Đặc tức giận quát lớn: “Ác quỷ cái gì chứ! Đều là âm mưu của bọn Đại Ngụy! Các ngươi nhìn cho rõ, trên mặt chúng đeo mặt nạ! Ai không toàn lực chống địch, rụt đầu rụt cổ, ta nhất định xử theo quân pháp, chém đầu hết thảy!”

Hốt Nhã Đặc nghiêm khắc quát to như vậy khiến chúng binh sĩ Ô Thác còn lại cũng không dám lùi bước, nhưng nỗi sợ hãi trong lòng người vốn không thể vì một câu nói mà tiêu tan hoàn toàn. Những chiếc mặt nạ do thợ Nhuận Đô chế tác cực kỳ kinh dị âm u, lại thêm bọn họ không hề nói lấy một lời, bất kể ai trông thấy cũng phải khiếp đảm ba phần.

Quân Ô Thác nhất thời không chiếm được lợi thế.

Ở phía bên kia, bên ngoài doanh trướng nơi Hòa Yến đang ở, bốn bề đã nghe thấy tiếng hỗn loạn vọng đến từ bên ngoài, thế nhưng binh sĩ Ô Thác canh giữ lương thảo chỉ lộ vẻ khác thường trên mặt, không hề nhúc nhích, ngược lại càng thêm cảnh giác hướng về tứ phía.

Ngay lúc ấy, bỗng nhiên có bóng người lóe lên, động tác cực nhanh, tựa như một vệt tàn ảnh, muốn tiếp cận kho lương. Binh sĩ Ô Thác lập tức đồng loạt hét lớn: “Có người đến!”

Tiếng đao kiếm va chạm vang lên, lúc này binh sĩ Ô Thác mới nhìn rõ, người đến hóa ra là một hắc y nhân đeo mặt nạ… Nhưng, chỉ có một người?

“Một mình cũng dám đến đốt lương thảo.” Binh sĩ Ô Thác cười nhạo: “Đại nhân Hốt Nhã Đặc nói không sai, bọn Đại Ngụy này không chỉ nhát gan, mà còn rất ngu ngốc!”

“Người Ô Thác không chỉ man rợ, mà còn rất lắm mồm.” Hắc y nhân đeo mặt nạ lạnh lùng đáp trả.

“Cung tiễn thủ chuẩn bị, bắn hắn thành con nhím cho ta!”

Vô số mưa tên từ phía sau rơi xuống. Kho lương là nơi có quân Ô Thác canh giữ đông nhất, bất kể bên ngoài xảy ra chuyện gì, những người này cũng không rời đi. Bởi lương thảo xét ở một khía cạnh nào đó chính là chìa khóa để người Ô Thác không tốn một binh một tốt mà vẫn giành chiến thắng. Công thành đương nhiên khó hơn thủ thành, nếu đánh cứng, tuy thắng được nhưng rốt cuộc sẽ có thương vong. Chi bằng từ từ tiêu hao Nhuận Đô, đợi đến khi người trong thành phần lớn bị chết đói, binh mã Nhuận Đô không còn sức đánh trận, lúc đó phá thành, như dao cắt đậu hũ, nhẹ nhàng dễ dàng.

Chính vì vậy Hốt Nhã Đặc cũng biết rõ, lương thảo không được phép có chút sai sót nào.

Mưa tên dày đặc, nhưng hắc y nhân kia lại dùng kiếm đỡ tên. Kiếm pháp của hắn giỏi đến kinh người, dưới cơn mưa đêm, trong ánh lửa của những ngọn đuốc chiếu rọi, nhanh đến mức khiến người ta khó mà nhìn rõ, chỉ thấy bóng đen xông sát, chẳng qua trong khoảnh khắc, trước mặt sau lưng đã đầy xác binh sĩ Ô Thác.

Hoàng Hùng cùng mấy người ẩn trong bụi cỏ đều sững sờ kinh ngạc.

Khi còn ở Lương Châu Vệ, bọn họ đã biết Hòa Yến đao thương cung tiễn thứ gì cũng tinh thông, roi dài cũng không thua kém, duy chỉ có điều chưa bao giờ thấy nàng dùng kiếm. Giang Giao từng hỏi, Hòa Yến chỉ nói: “Kiếm pháp của ta không giỏi, dùng lên khá vướng tay, thôi đừng bêu xấu. Dùng binh khí đương nhiên phải dùng thứ mình giỏi nhất.”

Đêm nay Hòa Yến lấy thanh bảo kiếm của Lý Khuông, bọn họ đều cho rằng vì Hòa Yến phải giả trang làm Phi Hồng tướng quân nên bất đắc dĩ mới dùng. Giờ thấy kiếm pháp hắn tinh diệu, chỉ e so với Phi Hồng tướng quân thật cũng chẳng kém cạnh gì, trước đây thật sự quá khiêm tốn, nhất quyết không chịu phô bày thân thủ thực sự.

Chẳng trách Hòa Yến dám một mình cô thân dạ tập doanh địch, phóng hỏa đốt lương thảo. Những mưa tên xung quanh cũng chẳng làm gì được.

“Tướng quân! Có người ra tay gần kho lương!” Thân tín bên cạnh Hốt Nhã Đặc hét lớn.

Hốt Nhã Đặc một đao đâm thẳng vào tim kẻ đeo mặt nạ trước mặt, mãnh liệt rút ra, lưỡi đao cùng vệt máu thu về một lượt. Người kia đổ gục xuống, chiếc mặt nạ trên mặt cũng rơi lăn trên đất. Hốt Nhã Đặc giẫm một chân lên, nghiến nát chiếc mặt nạ xuống mặt đất, quay người bước về phía kho lương, cười lạnh nói: “Không biết lượng sức mình!”

Vừa đi đến gần doanh trướng cạnh kho lương hắn đã thấy khắp nơi toàn là binh lính Ô Thác, vây ở giữa là một người áo đen cầm kiếm. Kiếm của người ấy tựa cầu vồng dài, rõ ràng chỉ một thân một mình, nhưng lại giết ra khí thế mười vạn đại quân. Mưa tên đen dày đặc bắn về phía hắn, nhưng ngay cả góc áo cũng không chạm nổi. Mà nơi trường kiếm chỉ tới, quân Ô Thác lần lượt ngã xuống.

Hốt Nhã Đặc bỗng dừng bước chân lại.

Mấy tên quân Ô Thác đồng loạt xông lên, nhưng thanh kiếm của người áo đen nhẹ nhàng như rắn lướt qua, một xoay một chuyển, vài người liền đổ gục trước mặt hắn. Vệt máu bắn lên chiếc mặt nạ bạc, lại bị màn mưa đêm mờ mịt rửa trôi, nhưng rửa không hết cái sắc bén nóng bỏng ấy, sát ý lẫm liệt.

Hốt Nhã Đặc đầu óc chợt ngẩn ra: “Ngươi là ai?”

Người đeo mặt nạ nhìn sang, đôi mắt rất đẹp rất sáng, khiến người ta lạnh toát toàn thân, thế nhưng giọng nói lại bình tĩnh, thậm chí có thể gọi là dịu dàng.

“Ngọc nhân đạp tuyết phiên nhiên khứ, phi hồng kinh vân tự tại phi.” Người áo đen nghiêng đầu nhìn hắn, nói: “Ta còn tưởng rằng tên của ta người trong thiên hạ ai cũng đều biết.”