Thái Hành Đạo

Thái Hành Đạo – Chương 1

NỮ NHI MẤT TÍCH

Trời tảng sáng, những quầy bán điểm tâm hai bên đường phố được lục đục dựng lên. Những lồng hấp tiểu long bao lúc này đang bốc hơi nghi ngút, ông chủ tiệm bánh bao quấn khăn vải thô, ung dung không vội vã chào mời những vị khách đi qua. Bên trái là một tiệm hoành thánh, trước cửa đặt nồi lớn ninh xương, đang sôi sùng sục nổi bọt trắng, hương bay mười dặm, chỉ ngửi thôi đã ứa nước miếng, nếm một ngụm nước dùng lại càng khiến người ta tấm tắc khen không dứt. Thế nên mỗi ngày khi chủ tiệm còn chưa kịp mở hàng xong đã có vô số người chầu chực trước cửa, chỉ sợ chưa đến lượt mình thì hoành thánh hôm ấy đã bán sạch. Chủ tiệm là một đôi phu thê, nam nhân phụ trách ninh nước dùng và chào mời khách khứa, phụ nhân thì cúi đầu gói hoành thánh ở một bên, thủ pháp thuần thục mau lẹ, chỉ chớp mắt đã có một viên hoành thánh xinh xắn được thả vào nia. Sợ vỏ bánh dính vào nhau, bà rắc lên một lớp bột khô, bưng nia lên xóc vài cái, rồi đưa cho trượng phu thả vào nồi.

Chưa tới nửa ngày, hoành thánh của hôm đó đã bán sạch nhẵn, phía sau vẫn còn một hàng dài khách chưa được ăn, ông chủ cười xin lỗi: “Thật ngại quá thưa chư vị, ngày mai xin mời đến sớm hơn.”

Mọi người đành ủ rũ giải tán, vài người tiện thể ghé chân vào ngồi ở quầy tiểu long bao cách vách, cũng coi như là thúc đẩy việc mua bán xung quanh.

Một bé gái tết tóc kiểu sừng dê đứng trước quầy, đôi mắt to tròn nhìn chằm chằm ông chủ đang thu dọn, giọng non nớt: “Cháu xếp hàng cả một khắc, tay chân tê rần cả rồi, công tử còn đang đợi ăn, nếu hôm nay không mua được về nhất định sẽ bị phạt đứng. Ông chủ làm ơn làm phước nấu thêm một bát nữa đi ạ.”

Ông chủ khó xử nhìn tiểu cô nương trước mặt: “Nhưng vỏ và nhân bánh đều đã hết rồi.”

Tiểu cô nương đáng thương chớp chớp mắt, bộ dạng rụt rè sợ sệt như thể quay về sẽ phải chịu phạt. Ông chủ nhìn mà mềm lòng, bèn nói: “Hay là ngày mai ta chừa riêng cho cháu một bát, cháu cứ trực tiếp đến bưng về nhé.”

Nghe vậy khuôn mặt tiểu cô nương liền hiện lên vẻ vui mừng, giọng giòn giã nói lời cảm tạ rồi nhảy chân sáo chạy đi. Ông chủ nhìn theo bóng lưng nhảy nhót hân hoan của con bé giẫm lên phiến đá xanh nghe lộp cộp, bàn tay nhỏ nghịch bím tóc, kèm theo một tràng chuông leng keng lọt vào tai vô cùng trong trẻo, ông bất giác mỉm cười, thu dọn bát đũa trên bàn rồi vào nhà.

Tuy nhiên sáng sớm hôm sau, khi bé gái ung dung thong thả dạo bước tới quán hoành thánh, đôi phu thê ông chủ lại không hề mở cửa dọn hàng. Bà con xếp hàng chờ đợi gọi với vào một trận, gõ cửa cũng không thấy động tĩnh gì, đành tụm năm tụm ba tản đi. Ông chủ tiệm bánh bao cách vách cứ lặp đi lặp lại lời giải thích với từng lượt khách không ngớt: “Hình như là khuê nữ của hai phu thê họ một đêm không về nên đã đi tìm rồi, phỏng chừng hôm nay sẽ không mở quán. Khách quan, có muốn nếm thử bánh bao súp không, vừa mới lên lồng hấp, tươi ngon lắm đấy.”

Tiểu cô nương đứng trước cửa, mím môi, hai khóe miệng trễ xuống, liếc nhìn ông chủ tiệm bánh bao đang ra sức mời khách, rồi lại ỉu xìu nhìn cánh cửa đóng chặt trước mặt, lẩm bẩm: “Đã hẹn hôm nay để dành một bát rồi mà.”

Ông chủ lại vì sự cố ngoài ý muốn mà thất hứa. Tiểu cô nương mân mê bím tóc, ống tay áo trượt xuống đến tận khuỷu tay, để lộ ra một đoạn cổ tay gầy guộc trắng trẻo, bên trên có buộc một sợi dây đỏ treo chuông. Thế nhưng mặc cho nàng động đậy, mấy quả chuông tinh xảo kia lại chẳng hề kêu, tựa như viên kim loại bên trong đã bị moi rỗng vậy. Ông chủ tiệm bánh bao vốn là người tinh ý, liếc tới liếc lui rốt cuộc cũng phát hiện ra điểm bất thường, cho dù bên trong chiếc chuông này có rỗng tuếch nhưng mấy quả chuông kim loại rỗng va vào nhau thì cũng sẽ phát ra tiếng. Ông chủ bèn hỏi: “Tiểu cô nương, sao chuông của cháu lại không kêu vậy?”

Tiểu cô nương rốt cuộc cũng nhìn thẳng vào ông chủ, đôi mắt cong lên cười: “Kêu mà.”

“Nói bậy, cháu lắc qua lắc lại ta có nghe thấy gì đâu.”

Đôi mắt tiểu cô nương híp lại thành hình bán nguyệt, vừa định mở miệng thì bị một giọng nói xen ngang ngắt lời: “Ông chủ, cho thêm hai lồng bánh bao nữa.”

“Có ngay!” Ông chủ lên tiếng đáp, vắt chiếc khăn vải trên tay lên vai, quay đầu đi bưng bánh bao.

Tiểu cô nương nhìn chằm chằm vào bóng lưng của ông, khẽ lẩm bẩm: “Vì không có mạng để nghe thôi, người không còn mạng mới nghe được!” Nói xong, xoay người đi về phía con ngõ vắng…

Liên tiếp mấy ngày tiệm hoành thánh kia đều không mở cửa lại. Chuyện hai vợ chồng đi tìm con gái truyền khắp đầu đường cuối ngõ, ai ai cũng biết, song chẳng một ai từng thấy tung tích con bé. Sương giá đọng trên cành suốt một đêm bị nắng sớm làm tan, hóa thành giọt nước thấm vào đất, rồi lại bị nắng trưa hong khô. Chủ tiệm hoành thánh bị quan binh ném ra khỏi cổng nha môn, máu me đầm đìa ngã sõng soài giữa phố, vừa hay chắn mất đường của một khách qua đường. Y hoàn toàn phớt lờ bước chân dừng lại của người nọ, xương hông lết qua mũi giày người ta, bất chấp tất cả mà bò về phía cổng nha, khóc gào: “Đại nhân, con gái tiểu dân thật sự ở trong Tạ trạch mà đại nhân, xin ngài làm chủ cho thảo dân…”

Quan binh xách gậy, hung thần ác sát nói: “Điêu dân to gan, dám vu cáo Tạ viên ngoại, đùa bỡn quan phủ, còn không mau cút đi thì sẽ đánh ngươi thêm hai mươi đại bản nữa.”

Người xem mỗi lúc một đông, tụ trước cổng nha chỉ trỏ bàn tán, có kẻ thương cảm, song chẳng ai bất bình thay cho ông khi bị huyện nha đánh trượng. Chủ tiệm hoành thánh lê tấm mông đầy máu bò lên bậc thềm, định tiếp tục dây dưa thì đột nhiên từ xa vọng lại tiếng hô hoán: “Vương Lục, Vương Lục, không xong rồi…”

Ông chủ tiệm bánh bao chen qua đám đông, thở hồng hộc lao đến trước mặt ông chủ tiệm hoành thánh Vương Lục, vẻ mặt hoang mang luống cuống: “Nương tử nhà ngươi chạy đến Tạ trạch đòi người, đâm đầu vào con sư tử đá trước cửa nhà người ta rồi, mau qua đó đi, sắp xảy ra án mạng rồi…”

Nghe vậy, tên quan binh cầm gậy và Vương Lục đồng thanh kinh hô: “Cái gì?!” Tên quan binh vỗ đùi một cái, bước qua bậc cửa: “Đúng là làm càn mà!”

Vương Lục rướn mình muốn bò dậy, nhưng vì vừa mới ăn gậy mông nở hoa, tổn thương đến gân cốt nên vừa động liền lăn trực tiếp từ bậc thềm xuống, ngã ngay cạnh chân một người. Trên mũi giày người ấy còn dính một vệt máu. Vương Lục ngẩng đầu, liền thấy một nữ tử búi tóc cài trường quan đứng sừng sững tại chỗ, thân hình thẳng tắp, ngược sáng nên không nhìn rõ đường nét. Ông chủ tiệm bánh bao tiến lên dìu Vương Lục, sau đó khập khiễng kéo người đi. Tên quan binh đi đầu đập mạnh gậy xuống đất, quát lớn: “Còn đứng ngây ra đó làm gì, mau bám theo xem, đừng để xảy ra án mạng.”

Người bán củ cải trước cổng nha nhìn theo đám người dần đi xa, còng lưng ngồi xuống cạnh đòn gánh: “Hai vợ chồng Vương Lục chắc là do mất con gái nên phát điên rồi, cắn chặt lấy nhà họ Tạ không buông.”

Người đi đường xem náo nhiệt lập tức hùa theo: “Chứ còn gì nữa, huyện lão gia đã ban lệnh khám xét, lật tung cả Tạ trạch lên nhưng ngay cả một sợi tóc của khuê nữ nhà hắn cũng không tìm thấy. Kết quả là sao, Vương Lục cuối cùng mới nói ra là do con gái hắn đêm về báo mộng, nói với vợ hắn rằng nó bị nhốt ở Tạ trạch. Chuyện này chẳng phải vớ vẩn sao, không chứng không cớ, chỉ mơ một giấc mộng mà đã kiện người ta lên quan phủ, làm huyện đại lão gia tức giận, phạt đánh Vương Lục hai mươi đại bản tại chỗ.”

Một bà lão khoanh tay trong ống tay áo, không nhịn được hỏi: “Giờ lại chạy tới Tạ trạch tìm sống tìm chết, chẳng lẽ định ăn vạ tống tiền sao?”

Người bán củ cải lắc đầu: “Không đến mức tống tiền đâu, sạp hoành thánh nhà lão Vương xưa nay vẫn rất đắt khách.”

Người qua đường nương theo mạch câu chuyện hỏi tiếp: “Vậy nếu không vì tiền tài, thì có lẽ là vì cái khác chăng?”

“Người chết vì tiền, chim chết vì mồi, còn có thể vì cái gì nữa…”

Trinh Bạch đi dọc theo con phố, bước chân trầm ổn chậm rãi, sau khi đã cách huyện nha một quãng, tiếng bàn tán của đám đông liền dần không còn nghe rõ nữa. Nàng bước vào khách điếm Tường Vân ở cuối phố, đi xuyên qua sảnh đường vào hậu viện, liền cách biệt với mọi sự huyên náo ồn ào. Ban đầu sở dĩ chọn nơi này chính là vì chỗ nghỉ ngơi thanh tĩnh. Tiểu nhị bưng mấy đĩa thức ăn từ đầu hành lang bên kia đi ra, bước chân vững vàng, vừa gặp mặt đã nở nụ cười chào đón quen thuộc: “Đạo trưởng về rồi à, có cần chuẩn bị cơm nước cho ngài không?”

Trinh Bạch đáp một tiếng không cần, rồi đi thẳng lên lầu. So với tiểu nhị giẫm bậc thang gỗ kêu cọt kẹt, nàng đi lại chẳng phát ra một tiếng động nào.

Chợt bên dưới truyền đến một hồi chuông leng keng thanh thúy, bước chân Trinh Bạch khựng lại, quay đầu nhìn. Một bóng hình nhỏ nhắn mặc y phục màu thanh thiên nhạtlướt qua chỗ hòn giả sơn rồi khuất vào trong gian nhà. Trinh Bạch chỉ do dự trong giây lát rồi giơ tay đẩy cửa bước vào phòng.

Bày biện trong phòng rất giản lược, một chiếc giường, một cái bàn vuông, góc tường đặt một chiếc tủ gỗ đứng để cất hành trang, chỉ là chất liệu tương đối kém, ngày tháng lâu dần nên có chút ẩm mốc, toát ra mùi gỗ mục.

Trinh Bạch lại không đặc biệt bận tâm đến mùi này, mùi hôi thối khó ngửi hơn thế này gấp trăm lần nàng cũng đã từng chịu đựng qua, huống hồ đây lại là căn phòng rẻ nhất của khách điếm Tường Vân. Trinh Bạch liếc nhìn ánh tà dương đang dần chìm về phía rặng núi Thái Hành, vươn bàn tay trắng ngần, kđóng ánh chiều lại bên ngoài cửa sổ. Trong phòng lập tức chìm vào một mảng u ám. Nàng đi tới trước giường, bắt đầu nhắm mắt đả tọa, khí áp quanh người theo lúc nhập định mà từng chút hạ thấp, thậm chí có luồng gió lạnh len qua khe cửa thấm vào, thổi vạt áo cùng mấy sợi tóc nàng khẽ lay động.

Đến nửa đêm, trong gió lạnh lẫn theo một tràng chuông reo, khi gần khi xa, song trong trẻo đến cực điểm. Tiếp đó lại là những tiếng “vù vù”, “xào xạc”. Trinh Bạch trở dậy xuống giường, chộp lấy thanh trầm mộc kiếm bên tay rồi lao ra khỏi cửa.

Cây đa ở góc tây nam hậu viện bị gió lạnh thổi xào xạc, rơi rụng vài chiếc lá khô. Trinh Bạch tung mình nhảy lên, sau mấy lượt nhảy lên đáp xuống liền dừng lại bên chân tường, nàng cúi đầu xem xét thì thấy bộ rễ không bám đất, ngoằn ngoèo mọc xuyên ra ngoài tường vây. Sở dĩ khách điếm này thanh tĩnh chính vì gian ăn uống quay ra mặt phố, còn khu trọ lại chiếm đất nơi đồng không, ngoài tường chẳng có nhà dân. Trinh Bạch ngồi xổm xuống, những ngón tay thon dài nhẹ nhàng vuốt ve phần rễ cây trồi lên khỏi mặt đất, chốc lát sau liền phi thân nhảy vọt qua tường.

Lúc tiểu cô nương áo xanh lao đến dưới hành lang thì cũng vừa vặn nhìn thấy một bóng đen lóe ra ngoài tường. Nàng ngẩng đầu nhìn chiếc chuông reo trên tay, nghi hoặc: “Ủa? Tiểu phiêu phiêu?”

Ngay lúc ấy, mặt nước trong mương dưới hành lang chợt gợn lên một cái, cây đa nọ cùng mấy hòn giả sơn xung quanh cũng như chao đi, tựa hồ cả tòa nhà vừa rung lên một cái khẽ đến mức không thể nhận ra, nếu không có sự cảnh giác cực cao thì căn bản chẳng thể phát hiện. Tiểu cô nương cau mày: “Dị động?” Không chần chừ thêm, nó lần theo bóng đen kia đuổi theo. Nó thu liễm hơi thở, vừa mới đạp lên cây đa định vượt tường, đột nhiên sau lưng vang lên tiếng gọi: “Ấy, tiểu hài tử không được trèo cây!”

Kẻ nào thích lo chuyện bao đồng mà lại không có mắt nhìn thế hả?! Tiểu cô nương thu lại tư thế định nhảy lên, quay người lại thì thấy chưởng quỹ khách điếm đang đi thẳng tới: “Nửa đêm nửa hôm thế này, người lớn nhà cháu đâu? Ngã xuống thì làm thế nào…”

Trinh Bạch đứng cách một bức tường nghe thấy động tĩnh, bèn rút thanh trầm mộc kiếm cắm dưới đất lên, xoay người đi về phía vùng hoang dã tối tăm.

Trăng khuất sao thưa, chẳng soi tỏ đường dưới chân, cỏ dại cành gai cứa vào vạt váy. Trinh Bạch hơi cúi đầu, từ trong tay áo rộng rút ra một lá phù lục, cổ tay lật một cái, trong lòng bàn tay liền bùng lên ngọn lửa nhỏ bằng hạt đậu, chiếu rọi vào sườn mặt trắng lạnh của nàng. Gió quét qua, ánh lửa chập chờn, cchỉ đủ nhìn rõ khoảng đất vuông dưới chân. Trinh Bạch chậm rãi cất bước, nhìn thì tưởng đi chậm, ấy thế mà mới sải bước vài nhịp, lại phảng phất như thuật súc địa thành thốn, đã đạp chân ở khoảng cách xa mấy trượng. Đợi đến khi tiểu cô nương áo xanh lừa gạt xong chưởng quỹ rồi nhảy lên bức tường thì đã không còn nhìn thấy bóng dáng của Trinh Bạch đâu nữa.

Càng đến gần sườn dốc, gió lạnh càng lớn, vù vù lùa vào trong tay áo, thổi phồng lên thành hai túi gió. Ngọn lửa hạt đậu trong lòng bàn tay lay động dữ dội vài cái, phốc một tiếng liền tắt phụt, bốc lên một tia khói xanh trong không trung. Trinh Bạch mặt không biểu cảm: “Dập được cả minh hỏa.” Vậy thì đây là thứ gió không tầm thường rồi.

Nàng đảo mắt nhìn quanh một vòng, ngặt nỗi xung quanh tối đen như mực. Nàng thò chân giẫm lên một khối lân thạch, vừa định leo lên sườn dốc, liền nghe một tiếng ầm vang, màn trời đen kịt lóe lên một tia chớp, điện quang bừng sáng, có một khoảnh khắc lóa mắt, bầu trời đêm tựa như bị kiếm sắc rạch toạc một đường, rồi lại khép liền trong chớp mắt.

Trinh Bạch nắm chặt trầm mộc kiếm, lá phù trong tay vung lên, hóa thành một chiếc đèn lồng xanh treo cao trên ngọn cây, trông thấy chỗ vừa bị sét đánh đã cháy thành một vùng đất đen, Trinh Bạch theo bản năng lùi lại hai bước, cân nhắc giây lát liền xoay người đi về phía cổng thành. Đêm khuya sương nặng, cỏ dại đẫm sương giá làm ướt vạt váy. Vừa đặt chân lên đường lớn nàng liền thấy từ phía xa có một phụ nhânhớt hải chạy tới, dải vải quấn trên trán rỉ ra mấy vệt máu, búi tóc xổ tung, sắc mặt xanh nhợt, hốc mắt trũng sâu càng lộ vẻ hoảng loạn cuống cuồng.

Sau lưng phụ nhân có mấy người hàng xóm đuổi theo sát nút, thở không ra hơi hét lớn: “Vợ của Vương Lục, không thể đi được đâu, đó chính là bãi tha ma, đi rồi là không về được nữa đâu.”

Nghe vậy, hai chân phụ nhân hơi run rẩy, ngã phục xuống đất, gào khóc thảm thiết: “Vương Lục…” Phụ nhân lại bò dậy, liền bị mấy người hàng xóm đuổi kịp giữ chặt lại. Bà ấy gấp gáp khóc rống lên, “Đừng cản ta…”

Ngay khi nghe thấy ba chữ “bãi tha ma”, Trinh Bạch đã dừng bước. Âm thanh thanh lãnh như sương đọng trong đêm hàn này, nhắc nhở không một tia độ ấm: “Những kẻ chết ở bãi tha ma Trường Bình toàn là binh lính, sát khí cực kỳ nặng.”

Năm xưa vương triều Đại Đoan xuất quân dụ địch tiến vào Trường Bình phát động chinh chiến, chôn sống ước chừng hơn bốn mươi vạn binh lính quy hàng của Tây đại tướng. Bãi chiến trường lan rộng khắp các ngọn đồi, thung lũng sông, cửa ải, đường sá, thôn trấn với hơn năm mươi chỗ. Thi cốt rải đầy đồng, đầu người chất thành núi, xóm làng hóa thành đống phế tích, khắp nơi là một mảng sinh linh đồ thán. Vô số thi cốt phơi giữa hoang dã, không được chôn cất, lại vì khí hậu Trường Bình ẩm nóng, ngày ngày dãi gió dầm mưa, thi thể thối rữa bùng lên một trận ôn dịch, ô nhiễm sông núi, lan sang mấy thôn làng lân cận, vô số dân làng kẻ chết người chạy, nơi đây liền trở thành bãi tha ma mà ai nấy đều tránh xa.

Phụ nhân nghe xong liền giật thót, quay đầu nhìn về phía người vừa cất tiếng. Nữ tử này đội ngọc quan dài, mái tóc đen nhánh buông thả một nửa, trên đỉnh quan cài một mặt dây chuyền châu thúy. Nàng vận trường sam màu huyền, mặt lụa tinh xảo bóng bẩy, bên hông đeo mặc ngọc, cổ xưa mà trầm uất. Sau lưng cõng một thanh hắc trầm mộc kiếm, dài khoảng hai thước sáu tấc, toàn thân đen kịt sáng bóng.

Theo lẽ thường, nữ tử dân gian đều chẳng búi tóc cài quan, cài quan tức là người xuất gia tu đạo, huống hồ người này còn mang theo pháp khí Đạo gia.

Phụ nhân khóc lóc kể lể: “Nhưng trượng phu nhà ta đã đi rồi a, ta phải đi tìm ông ấy về…”

Hàng xóm: “Bà đi thế chẳng phải tự đem mạng nộp không sao? Nhà họ Tạ đúng là tạo nghiệt, dù có nóng nảy đến đâu cũng chẳng nên ăn nói xằng bậy chứ.”

Trinh Bạch đứng một bên nghe họ bàn tán mồm năm miệng mười, rốt cuộc cũng hiểu được đầu đuôi sự việc: vì Vương Lục mất con gái, tìm kiếm vô vọng, ai ngờ con gái đêm đêm báo mộng cho ông, nói rằng mình đang bị nhốt ở Tạ trạch. Bởi thế nên Vương Lục báo quan lục soát khắp trên dưới Tạ trạch. Nhưng lục soát chẳng thấy gì, Vợ chồng Vương Lục không cam lòng, suốt ngày bám trước cửa nhà người ta làm ầm ĩ đòi sống đòi chết, khiến Tạ trạch chẳng một ngày yên ổn. Người nhà họ Tạ trong lúc giận quá mất khôn đã buột miệng: “Các người đã tìm khắp cả tòa thành rồi, Tạ phủ ta cũng bị đào ba thước đất, ngay cả một bóng ma cũng không có, lại không để cho người ta được yên ổn. Ai mà biết con gái ngươi có bị tên dã nam nhân nào bắt cóc chạy mất hay không, đã tìm qua bãi tha ma chưa?! Nơi đó chỉ có vào mà không có ra, nói không chừng đã sớm chẳng còn mảnh xương nào…”

Lời nhà họ Tạ tuy độc địa, song cũng chẳng phải không có khả năng. Thế nhưng người nói vô tâm, kẻ nghe hữu ý. Trước kia có thợ săn và đoàn thương nhân phương xa lạc vào bãi tha ma, liền chẳng bao giờ ra được nữa. Tháng trước trời hiện dị tượng, trên không của bãi tha ma mây loạn bay ngang, âm khí u ám cuộn trào, kéo dài hơn một tháng chẳng tan, kèm theo sấm chớp không dứt. Có đứa trẻ ham chơi lạc vào trong đó, bị tiều phu trông thấy, vội vàng về thành gọi người. Sau đó hai vị tu sĩ đi ngang qua đây, tự nguyện xung phong vào cứu người, đến nay vẫn chưa ra. Sống chết thế nào, trong lòng dân làng đều đã có phán đoán. Nếu Vương Lục và con gái đã vào bãi tha ma, chắc như đinh đóng cột là có đi không có về. Hàng xóm láng giềng sao có thể để mặc cho phụ nhân này tiếp tục đi tìm chỗ chết.

Trên khuôn mặt không cảm xúc của Trinh Bạch hiện lên một tia nghi hoặc: “Hai vị tu sĩ? Tháng trước tiến vào bãi tha ma?”

Một người hàng xóm gật đầu đáp: “Đúng vậy, cho tới giờ vẫn chưa đi ra, phỏng chừng cùng với đứa trẻ kia lành ít dữ nhiều rồi.”

Trinh Bạch rủ mắt: “Đứa trẻ nhà ai?”

Mọi người nhìn nhau, nhao nhao lắc đầu: “Thì đó, không… không nghe nói nhà ai bị lạc mất trẻ con.” Chính vì không có trẻ em mất tích, nên mọi người mới không để chuyện này trong lòng, tiếp tục làm như không có chuyện gì mà sống qua ngày, chỉ cho là tên tiều phu kia hoa mắt, hại hai vị tu sĩ uổng mạng. Trải qua một trận khiển trách của mọi người, khiến gã tiều phu cũng không dám khẳng định chắc nịch, suy cho cùng lúc đó trời tối sương mù dày đặc, nhìn lầm cũng không phải là không có khả năng.

Lúc này lại có người nói: “Tiều phu kia còn bảo, có lẽ là trẻ con thôn khác chạy sang, hoặc là đứa trẻ lang thang cũng nên.”

Đang lúc Trinh Bạch trầm ngâm, đột nhiên một bà lão vỗ đùi đánh đét, trợn đôi mắt nhăn nheo sụp xuống mà nói lời kinh người: “Chẳng… chẳng lẽ thứ tiều phu nhìn thấy, là thứ gì đó không sạch sẽ chăng?”

Nơi đó lại ở bãi tha ma Trường Bình, được bà lão chỉ điểm một câu, lập tức khiến người ta nghĩ kĩ mà thấy rợn tóc gáy.

Lúc này một trận âm phong quét qua, ông chủ tiệm bánh bao đánh một cái rùng mình, con ngươi xoay chuyển nhìn về phía gương mặt trắng lạnh của Trinh Bạch, ấp úng nói: “Vị… vị này… Đạo… đạo trưởng… ngài thấy thế nào?”

Chuyện quái lực loạn thần thế này, vẫn phải hỏi người trong nghề mới yên tâm.

Trinh Bạch chỉ đưa mắt liếc nhẹ, không đáp lời, chỉ nói: “Về đi, chỗ đó chẳng phải nơi người thường có thể lại gần.”

Phụ nhân đau xót mất đi ái nữ, nay trượng phu lại tìm đến bãi tha ma, khiến bà càng thêm đau đớn tuyệt vọng. Nay đã không còn hy vọng gì, vậy thì thà đi theo trượng phu cùng chết. Bà ra sức muốn vùng vẫy thoát khỏi tay của xóm giềng, giằng co một hồi khiến hiện trường loạn cả lên.

Trinh Bạch cực ghét ồn ào, càng chán ghét nghe tiếng khóc gào. Nàng thừa hiểu trên đời lắm người chẳng nghe lọt lời khuyên, bèn không muốn tốn thêm lời. Chỉ là vừa bước được hai bước, đã nghe một người hàng xóm kêu lên kinh hãi: “Cái gì kia…”

Tiếng khóc lóc im bặt, xung quanh đột nhiên trở nên tĩnh mịch lạ thường.

Bước chân Trinh Bạch khựng lại, xoay đầu nhìn, chỉ thấy giữa đêm đen tĩnh mịch, một người áo trắng xách theo chiếc đèn lồng trắng, mái tóc đen buông xõa, càng làm tôn lên khuôn mặt nhợt nhạt. Bước chân người nọ nhẹ bẫng phảng phất như bất cứ lúc nào cũng có thể bay lên. Gió lạnh khẽ lướt qua, áo trắng tung bay, càng lộ rõ vẻ rợn người.

“Mẹ ơi…” Chủ tiệm bánh bao rú lên một tiếng, vọt một bước núp ra sau lưng Trinh Bạch, sợ đến run cả gan: “Đạo… đạo trưởng, ngài… ngài biết thu phục ma quỷ chứ?”

Trinh Bạch nhất thời cạn lời.

Con quỷ nào lại xách theo đèn lồng đi dạo đêm?!

Mong các bạn ủng hộ để mình có thể duy trì trang web và mua pate cho Thaigo nhé ^^
Paypal:
paypal.me/thaigo666/3
Vietinbank: Tran Le Thanh Vy – 106872967426

Xin đa tạ <3