Thái Hành Đạo

Thái Hành Đạo – Chương 67

ĐÈN NHÂN DƯƠNG

Đèn đuốc khắp chùa đã tắt nhưng Trinh Bạch vẫn mãi không đợi được Nhất Tảo trở về. Nàng sang gian bên cạnh gõ cửa phòng Lý Hoài Tín, không có tiếng đáp lời, bèn tự đẩy cửa ra, bên trong trống trơn.

Trinh Bạch nhớ tới lão tăng trong Pháp đường, mơ hồ có chút lo lắng nên cầm trầm mộc kiếm đi tìm.

Cả ngôi chùa tĩnh lặng đến quái dị, chỉ có ngọn đèn hoa sen trong Phật đường còn cháy, một quầng sáng yếu ớt lọt ra qua khung cửa sổ chạm rỗng, chẳng soi sáng nổi màn đêm.

Nàng đi xuyên qua khoảng sân, rẽ trái rẽ phải, đi tuần tra một vòng quanh ngôi chùa vuông vức. Cứ đi lung tung một hồi, chợt nghe thấy tiếng ‘rầm rầm rầm’, là tiếng đập cửa.

Trinh Bạch lần theo nơi phát ra âm thanh, rầm rầm rầm càng lúc càng rõ.

Ở ngã ba của lối đi đột nhiên có một bóng người vụt ra, đầu trọc, mặc áo khoác tăng nhân, chạy chậm tới rút chốt cửa.

Đây là cổng lớn của Hoa Tạng Tự, lúc này đã nửa đêm canh ba, hẳn là có người đi ngang qua đây muốn vào chùa xin tá túc qua đêm.

Tiếp đó vọng tới tiếng nói chuyện, thanh âm đứt quãng, mang theo chút run rẩy, nghe có hơi quen tai. Muộn thế này lại chẳng phải xin ngủ nhờ, mà là cất công tới chùa tìm người. Sau vài câu trao đổi, tăng đồ lắc đầu, người kia bắt đầu sốt ruột, nói năng lộn xộn: “Hắn họ Đường… tên Đường Quý Niên… nhà ở Quảng Lăng… mười ba năm trước tới Hoa Tạng Tự… xuống tóc xuất gia…”

Tăng đồ kia nói: “Tiểu tăng ba tháng trước mới quy y cửa Phật, không biết người thí chủ nói là ai, hay là ngài cứ nghỉ lại đây một đêm, đợi sáng sớm mai hỏi trụ trì xem sao.”

Người kia chắp hai tay, cúi gập người vái một cái thật sâu: “Vậy thì làm phiền tiểu sư phụ rồi.”

Tăng đồ vái chào đáp lễ, cài lại cổng lớn rồi dẫn người đó vào chùa.

Dưới chân bức tường đỏ ở góc rẽ có một dãy hòn non bộ, rất dễ ẩn nấp. Trinh Bạch đứng trong bóng tối lặng yên không một tiếng động, cũng không cố ý trốn tránh. Nàng nhìn chằm chằm hai người đi qua trước mặt, nhận ra người tới chính là thợ chế hương từng đi chung xe ngựa. Người ấy đi đứng hơi khập khiễng, giẫm lên nền tuyết, để lại những dấu chân chỗ sâu chỗ nông.

Trinh Bạch bước ra khỏi bóng tối, chọn một con đường khác.

Nàng đi tới đi lui trong ngôi chùa tối om, vô tình rẽ vào lầu chuông. Nơi này nằm đối diện với lầu kinh, cùng với lầu trống chia ra nằm ở hai cánh của Phật tự. TTrinh Bạch ngẩng đầu nhìn chằm chằm chiếc chuông phạn treo trên đỉnh lầu, lòng đột nhiên run lên. Sau đó nàng bước tới, nắm lấy ổ khóa đồng vặn mạnh một cái, dùng tay không bẻ tung chiếc khóa lớn ấy. Nàng đẩy cửa, bước vào lối đi tối om, thắp lên một ngọn thanh đăng rồi rảo bước lên bậc thang.

Đứng trên đài chuông, nàng nâng đèn soi gần, kinh văn khắc trên chuông hiện rõ: “Nghe tiếng chuông, phiền não nhẹ, trí tuệ tăng, bồ đề sinh, lìa địa ngục, thoát hố lửa, nguyện thành Phật, độ chúng sinh.”

Ngọn đèn xanh trong tay Trinh Bạch đột ngột rơi xuống đất, hóa thành một nhúm tro tàn. Bốn câu “lìa địa ngục, thoát hố lửa, nguyện thành Phật, độ chúng sinh” phía sau chuông phạn tựa như một góc trang sách lật qua trong đầu, lóe lên rõ mồn một, hiện ra sờ sờ trước mắt. Dường như chỉ mới cách đây không lâu nàng đã tận mắt nhìn thấy, quen thuộc đến mức khiến người ta giật mình kinh hãi.

Đó là một loại dự cảm mãnh liệt chưa từng có, kể từ lúc rời khỏi thôn Táo Lâm, từng chút từng chút hồi sinh trong cơ thể nàng. Nó khiến nàng thỉnh thoảng lại nhớ tới một vài chuyện xưa cũ êm đềm phẳng lặng. Trong những chuyện cũ ấy thường xuất hiện một người. Hắn là tu sĩ, nhưng lại khác người, không thích mặc đạo bào, tóc buộc cao, dùng một dải lụa màu chàm thắt gọn gàng tỉ mỉ. Vai rộng tay áo hẹp, đai buộc vòng eo gầy rắn rỏi, một thân trang phục gọn gàng nhanh nhẹn. Hắn bưng hai lạng rượu, ngồi tựa dưới mái hiên Bất Tri Quan, một chân co lên một chân buông thõng, ngửa đầu uống một ngụm rượu, phóng túng chẳng có phép tắc gì.

“Dương huynh đệ.” Một ông lão chạy ra từ Bất Tri Quan, mái tóc lốm đốm bạc dùng một cành cây cài tạm, tay bưng một cái đĩa ngồi xuống sát bên hắn: “Ta lục trong bếp được mỗi đĩa đậu nành, đã luộc chín rồi, hai ta tạm lấy nó nhắm rượu vậy.”

Nam tử nhếch khóe môi, đưa mắt về phía ánh tà dương đang chìm xuống phía tây, cười đến phong thái anh tuấn, hắn nói: “Chủ nhân về rồi.”

Trinh Bạch đứng trong ráng chiều, bạch y tinh khiết không một hạt bụi, mái tóc dài chấm gối. Trong tay nàng cầm một cây liềm, tay còn lại xách hai cây cải thảo, che khuất ánh hoàng hôn vàng cam.

Ông lão vung tay lên, cười gọi nàng: “Tiểu Bạch, hôm nay ta dẫn một người bằng hữu tới.”

Trinh Bạch đi tới, tiện tay cắm cây liềm vào khe đá, liếc nhìn đĩa đậu nành lạnh nhạt nói: “Lão Xuân, các người ăn mất hạt giống của ta rồi.”

Phì, nam tử bật cười thành tiếng, nhìn gần Trinh Bạch, vẻ lạnh nhạt không gợn sóng giữa mày mắt kia giống hệt nữ tử lão Xuân từng kể với hắn.

“Ôi chao.” Lão Xuân áy náy vô cùng: “Ta thật sự không biết, trong bếp chẳng có gì, khó khăn lắm mới lục được một nắm đậu dưới gầm bếp nên đem nấu luôn. Lần đầu tiên ta dẫn bằng hữu tới, dù sao cũng phải có món nhắm rượu, ai mà biết được nhà cô đến gạo nấu cơm cũng chẳng có.”

“Lần đầu theo lão ca tới cửa đã gây phiền phức cho chủ nhà, lần sau chúng ta nhất định tự mang rượu thức ăn tới.” Nam tử xách bình rượu nghiêng người, rướn cổ, khóe môi ngậm cười nhìn về phía Trinh Bạch: “Còn đền cho cô hai nắm đậu nữa.”

Trinh Bạch quen sống một mình, không có những câu khách sáo giả lả giữa người với người, huống hồ người này lại xưng huynh gọi đệ với lão Xuân, hẳn cũng là kẻ tính tình thẳng thắn, nàng nói rất thẳng: “Mùa gieo hạt sắp qua rồi, ngươi đừng làm lỡ thời vụ.”

Nam tử không ngờ lại có người chẳng khách khí chút nào như vậy, vì mấy nắm đậu mà giục hắn đừng làm lỡ thời vụ. Hắn thấy thú vị, trong lòng vui vẻ, hứa hẹn: “Ngày mai! Ngày mai ta sẽ mang tới cho cô!”

Hắn nói được làm được, hôm sau liền mang tới một gói đậu, kèm thêm hai đấu gạo, và một con ngỗng béo kêu quàng quạc.

Trinh Bạch cũng không biết vì sao, có thứ gì đó đang từng chút một đánh thức những ký ức ấy, những ký ức nàng chưa từng quên, nhưng cũng chưa bao giờ cố ý nhớ lại. Nàng đứng ngây ra trước quả chuông, hồi tưởng những chuyện này, cứ như đã cách cả một kiếp người.

Nhưng nàng không chìm đắm mãi trong chuyện cũ, đi thẳng xuống lầu chuông. Phía trước là Đại Hùng Bảo Điện, chính điện thờ tượng Phật của Hoa Tạng Tự, cũng là nơi chúng tăng tập trung tu tập sớm tối. Điện quay lưng về bắc, mặt hướng về nam, rộng bảy gian, mái chồng kiểu hiết sơn, đường nóc chính gắn tượng long vẫn*, chính giữa đặt bảo kính, bốn phía có hành lang bao quanh, khí thế hùng vĩ.

*đầu rồng

Trinh Bạch đi dọc theo con đường lớn. Trước điện có hai cây tùng cổ thụ to đến mức hai người ôm mới xuể, cành lá vươn ngang, tán cây đội tuyết, giống như hai tòa bạch tháp sừng sững hai bên.

Ở giữa khoảng sân rộng đặt một chiếc bảo đỉnh lớn, khắc tên Hoa Tạng Tự. Trinh Bạch đi tới trước cửa điện, giơ tay đẩy ra. Giữa đại điện là một pho tượng Phật chính, tượng mạ vàng, nngồi khoanh chân trên đài sen hai tầng có thắt eo, lòng bàn chân ngửa lên, chính là tư thế kiết già phu tọa. Đầu tượng Phật trang trí tóc ốc, trên đỉnh có nhục kế cao, tay trái làm Xúc Địa Ấn, tay phải kết Thiền Định Ấn. Thân khoác cà sa phủ kín hai vai, viền áo chạm khắc hoa văn tinh xảo, mang lại cảm giác hùng hồn trang nghiêm.

Trinh Bạch thấy ngột ngạt, chần chừ một lát mới cất bước đi vào. Trên bàn cúng thắp đèn trường minh, trước tượng Phật treo rất nhiều phướn kinh, từ xà nhà buông rủ xuống, có cái vô tình quét qua mũ cao của Trinh Bạch, nàng thận trọng né đi, nhanh chóng đảo mắt một vòng, không có ai khác.

Đúng lúc định lui ra khỏi điện, nàng mơ hồ nhận ra có gì đó không ổn, quay đầu lại nhìn ngọn đèn trường minh đang cháy trên bàn cúng. Ngọn lửa thẳng tắp, dẫu gió lạnh lùa vào cũng không hề lay động mảy may. Trinh Bạch lại gần, phất ống tay áo dài cuốn theo một luồng gió mạnh, vậy mà không dập tắt được ngọn đèn trường minh ấy.

Trinh Bạch nhíu mày, ngẩng đầu nhìn chằm chằm pho tượng Phật. Rõ ràng dung nhan trầm tĩnh, thần thái an nhiên, thế mà nhìn vào lại khiến người ta lạnh sống lưng. Nàng vẫn luôn cho rằng vì sát khí trên người mình quá nặng nên mới e dè thần Phật, vừa bước vào chùa đã bị một sức ép vô hình bao trùm. Cảm giác này khó nói thành lời, đến chính nàng cũng có phần khó phân biệt. Cho tới khi phát hiện ngọn đèn trường minh không thể dập tắt này Trinh Bạch mới nảy sinh nghi ngờ, vì trên đèn không hề dùng thứ gì của Phật môn để duy trì. Nhìn kỹ hơn mới phát hiện bên trong không hề có bấc đèn, cũng chẳng có dầu đèn.

Nàng cân nhắc một lát, giơ tay lên, đầu ngón tay tụ âm khí. Một luồng nho nhỏ phất qua đèn trường minh, chỉ thấy ngọn lửa nhảy lên một cái, còn mạnh hơn lúc nãy, đẩy lùi luồng âm khí kia.

Trinh Bạch có chút bất ngờ: “Trước Phật này rốt cuộc thắp thứ lửa gì?”

Mang theo nỗi nghi vấn ấy, nàng sang điện phụ, phất tay áo trước một ngọn đèn trường minh y hệt, vẫn không tắt. Sắc mặt Trinh Bạch nặng nề, âm khí trong lòng bàn tay bùng lên mạnh mẽ, đè xuống ngọn đèn, phụt, tắt ngúm.

Ánh mắt Trinh Bạch lạnh đi, móc ra xâu tiền Ngũ Đế, ngón tay búng một cái, Phùng Thiên lảo đảo hiện thân, bị tiếng ong ong của tiền Ngũ Đế chấn động đến mức váng đầu.

Người này cũng không biết nhẹ tay một chút. Nhưng đối mặt với Trinh Bạch, y lại chẳng dám thẹn quá hóa giận, đành phải ngậm đắng nuốt cay mà chịu đựng.

Nhìn quanh tượng thần chư Phật, Phùng Thiên rùng mình một cái: “Chúng ta đang ở trong thần điện à?!”

Trinh Bạch gật đầu, không dài dòng với y, chỉ vào đèn trên bàn cúng hỏi: “Đây là gì?”

Phùng Thiên chớp chớp mắt, ngây thơ đáp: “Đèn trường minh chứ gì.”

Trinh Bạch đương nhiên biết đây là đèn trường minh, thứ nàng hỏi là: “Những ngọn đèn trường minh thắp trước Phật này không có bấc đèn cũng không có dầu, dùng lửa gì mà cháy được?”

Phùng Thiên sững ra, bay lại gần nhìn kỹ, ngọn lửa khẽ lay động, Phùng Thiên né ra xa một chút, sắc mặt chợt biến: “Mẹ ơi!” Y có phần khó xác định: “Đây là, thắp bằng dương hỏa à?”

Nghe vậy Trinh Bạch chau mày, như thể đã chứng thực suy đoán của mình: “Ngươi là âm linh, tất nhiên phân biệt được rõ hơn mắt thường. Đỉnh đầu và hai vai con người tổng cộng có ba ngọn dương hỏa, thứ đang cháy trong Phật đường này, chính là đèn Nhân Dương.”

Phùng Thiên trợn mắt, càng thêm khó tin: “Đây là thần điện đấy, trước mặt Phật ở trong chùa sao có thể dùng dương hỏa của người để thắp đèn?!” Y đưa tay ra chạm vào đèn trường minh như muốn kiểm chứng thêm, kết quả dương hỏa thiêu âm, y vội rụt tay về, đầu ngón tay đã cháy đen.

Thông thường người có dương hỏa vượng có thể chống lại sự xâm nhập của những âm linh yếu ớt, ví dụ giống như Phùng Thiên đây chẳng hạn, nếu dám tác oai tác quái ắt bị dương hỏa thiêu cháy, tự tìm đường chết. Trừ phi y âm khí cực thịnh, hoặc hung lệ ác sát, hoặc cũng có thể là đã chết rất nhiều năm, chết được một thời gian nhất định rồi, thế thì lại là chuyện khác.

Ba ngọn dương hỏa cháy trên đỉnh đầu và hai vai con người tượng trưng cho tuổi thọ. Người ta thường nói người chết như đèn tắt, cũng là ý chỉ đèn Nhân Dương này.

Trinh Bạch nói: “Có kẻ trộm đèn Nhân Dương để cúng dường thần linh.”

“Thế khác gì trộm thọ mệnh của người ta, người sống bao lâu, đèn cháy bấy lâu, năm mươi năm, tám mươi năm, hay một trăm năm, chẳng cần thêm bấc đèn hay châm dầu gì cả, đây mới đúng là đèn trường minh thật sự.” Phùng Thiên kinh hãi: “Nhà Phật coi trọng tích đức làm việc thiện, lấy từ bi làm gốc, giữ giới luật thanh quy, sao có thể lấy đèn Nhân Dương của người ta để thờ cúng trong Phật đường?”

Nhưng sự thật bày ra trước mắt, không thể không tin. Trinh Bạch không nói gì, Phùng Thiên làm động tác nuốt nước bọt, đưa mắt nhìn từng tòa Phật điện san sát bên ngoài: “Một ngôi chùa lớn nhường này, nhiều gian điện đường nhường này. Nếu như tất cả đều là… thì phải đốt bao nhiêu ngọn đèn Nhân Dương, sống sờ sờ tước đoạt tuổi thọ của bao nhiêu người cơ chứ, chẳng phải là đại khai sát giới hay sao.”

Lòng hai người chợt lạnh, bèn đi xuyên qua từng gian điện một để xem xét. Đèn cúng dường trước tượng Phật toàn bộ đều là đèn Nhân Dương.

Phùng Thiên sợ chết khiếp, chợt nhớ ra hỏi: “Hoài Tín đâu?”

Trinh Bạch nói: “Ta cũng đang tìm hắn.”

Phùng Thiên run bắn một cái, nổi cáu: “Cái gì mà cô cũng đang tìm hắn?! Chỗ nguy hiểm thế này, lỡ như…”

Y chỉ thẳng vào Trinh Bạch, hùng hổ gầm một trận như nuốt trôi cả núi sông, đến khi chạm phải gương mặt lạnh như sương giá kia, lập tức không gầm nổi nữa. Chữ “như” nhanh chóng xẹp xuống, như bị người ta bóp mạnh lấy yết hầu. Phùng Thiên run rẩy im bặt, giọng hạ xuống mười tám bậc, khúm núm nói: “Ta… ý ta là, hai người cùng nhau vào chùa, sao lại lạc nhau được?”

Chốn Phật môn thánh địa vốn không có gì để nghi ngờ, Trinh Bạch cũng không đề phòng nhiều, ngược lại còn cho rằng bản thân mình nên kiêng dè. Nhưng ai mà ngờ được, lại phát hiện ra loại chuyện này.

Mặc dù trong lòng Phùng Thiên biết rõ, Lý Hoài Tín đã lớn tồng ngồng rồi, nói quá lên một chút thì chân dài mét tám, thả ra cái là như con ngựa hoang đứt cương, không thể trách người ta không dòm chừng hắn được. Trinh Bạch cũng đâu có nghĩa vụ phải dòm chừng hắn.

Sở dĩ y phản ứng kịch liệt như vậy cũng là vì lo lắng Lý Hoài Tín không có lòng nghi ngờ. Bởi vì thông thường chỉ trong những môi trường mà con người tự cho là tương đối an toàn mới là lúc lơ là cảnh giác nhất. Y sợ Lý Hoài Tín mất phòng bị sẽ bị kẻ khác ám toán.

Kết quả là lo quá hóa rối, y thật sự không phải ăn gan hùm mật gấu mà dám quát Trinh Bạch.

Phùng Thiên thấp thỏm vô cùng: “Hay chúng ta chia, chia nhau ra tìm đi.”

“Không được.” Trinh Bạch lạnh giọng, khẩu khí không cho phép bàn cãi: “Ngươi không thể đi một mình.”

Khoan bàn tới chuyện trong ngôi chùa này ẩn giấu nguy cơ gì. Bây giờ chỉ cần một người bình thường có dương khí vượng một chút thôi cũng có thể làm tổn thương Phùng Thiên chứ đừng nói gặp phải cao tăng. Nếu như chia nhau ra hành động mà xảy ra sơ suất gì, để cái tên tính tình tệ hại kia trở về biết được chắc chắn sẽ không để nàng được yên thân. Để tránh bao nhiêu rắc rối, Trinh Bạch nhất định phải cố gắng hết sức bảo đảm hồn thể của Phùng Thiên không bị sứt mẻ lấy một cọng lông.

Trong lòng nàng biết rõ Lý Hoài Tín coi trọng âm linh này đến mức nào, cho dù có phải đẩy nàng ra đỡ đao cũng không thể để hồn thể Phùng Thiên chịu nửa điểm tổn thương.

======

Tác giả có lời muốn nói:

Có màn để Lý Hoài Tín khóc đấy.