Thái Hành Đạo

Thái Hành Đạo – Chương 66

HOA TÀNG TỰ (2)

Xe ngựa ra khỏi Quảng Lăng, men theo bờ sông mà đi, hai bên bờ tuyết tàn vương trên cành gãy, trời đất giá buốt.

Vó sắt giẫm lên tuyết đọng, giữa những cơn gió lạnh rít gào, vang lên tiếng sột soạt lộc cộc.

Lại bởi vì tuyết đọng quá dày, không thể đi nhanh, đến lúc hoàng hôn nhá nhem chợt nghe tiếng chuông boong boong vang lên, Phùng Thiên và Nhất Tảo cùng lúc rùng mình một cái. Tiếp đó chuông chùa lại vang, gõ nhanh mười tám tiếng, gõ chậm mười tám tiếng, rồi không nhanh không chậm gõ thêm mười tám tiếng, cứ thế lặp đi lặp lại, trầm hùng vang dội mà ngân dài.

Nhất Tảo vén rèm lên nhìn: “Có Phật tự.”

Xe ngựa càng lúc càng tới gần, Phùng Thiên đã sợ đến mức có phần suy yếu: “Hay chúng ta đi đường vòng đi.”

Lý Hoài Tín: “Vòng cái gì mà vòng, trời tối rồi đâu thể tiếp tục đi đường đêm nữa, vừa hay đến đây, tối nay vào Phật tự xin ngủ nhờ.”

“Đây là Phật môn thánh địa, một cô hồn dã quỷ như ta sao dám bước vào.” Phùng Thiên quay sang chỉ Nhất Tảo: “Còn con nhóc này nữa…”

Nhất Tảo cắt ngang lời y: “Ta không phải cô hồn dã quỷ, ta không sợ.”

Lý Hoài Tín bèn nói: “Nếu ngươi sợ quá thì cũng có thể không vào, tìm bừa một nấm mồ gần đây ở nhờ một đêm cũng được.”

Phùng Thiên: “…” Ở nhờ ông nội nhà ngươi ấy!

Y quay sang Trinh Bạch, mặt nàng không cảm xúc xòe tay ra, trên lòng bàn tay là một xâu Ngũ Đế tiền: “Vào đi.”

Phùng Thiên đành cam chịu số phận, hóa thành một làn khói xanh.

Ngôi chùa trang nghiêm tĩnh mịch, cửa son tường đỏ mái ngói lưu ly. Trên bức hoành phi cổng chào nguy nga viết ba chữ vàng “Hoa Tàng tự” như rồng bay phượng múa.

Phía trên bậc đá phủ đầy tuyết trắng có ba cánh cửa, chính là “Tam giải thoát môn” mà Phật giáo thường nhắc tới, tức ba pháp môn dẫn đến con đường giải thoát: Không, Vô Tướng, Vô Nguyện. Cửa ở giữa gọi là Không môn, bên trái là Vô Tướng môn, bên phải là Vô Nguyện môn.

Lý Hoài Tín rẽ sang trái, gõ cửa Vô Tướng môn. Dù sao Đạo và Phật là hai nhà, nên có chút kiêng dè, vì riêng với hắn mà nói, , cảm thấy nếu đi vào từ cánh cửa Không ở giữa, cứ có chút ý vị độn nhập không môn*. Những kẻ nghĩ không thông trên thế gian này xuất gia làm sư chẳng phải đều gọi là “độn nhập không môn” đó sao.

*quy y cửa Phật

Vô Tướng môn được mở ra từ bên trong, đập vào mắt là một cái đầu trọc bóng loáng, mặc tăng phục vải xanh, đeo chuỗi tràng hạt gỗ mun, niệm một tiếng Phật hiệu chắp hai tay vái chào bọn họ.

Lý Hoài Tín đáp lễ: “Tiểu sư phụ, chúng ta đi ngang qua nơi này, thấy trời đã tối, không biết có thể ở nhờ quý tự một đêm được chăng?”

Tăng đồ mở cửa dẫn họ vào chùa, đi xuyên qua lối đi lát đá vào điện Di Lặc. Điện này tường đỏ ngói xanh, đấu củng vẽ màu, chính giữa thờ tượng Di Lặc, hai bên thờ Tứ Đại Thiên Vương. Điện thờ có ba gian mái kiểu hiết sơn, hai tầng hiên, tổng cộng có chín đường sống lưng mái. Trên mái điêu khắc các loại trang trí như vẫn thú, vọng thú, tiên nhân thú… vô cùng cao lớn trang nghiêm, khí phái tự nhiên.

Tăng đồ nói: “Xin các vị thí chủ chờ một lát, bổn tự đang vào giờ khóa tối, trụ trì đang tụng kinh ở pháp đường, tiểu tăng sẽ đi xin chỉ thị ngay.”

Lý Hoài Tín gật đầu: “Làm phiền rồi.”

Nhất Tảo chưa từng thấy Phật đường bao giờ, mắt đảo lia lịa, đối diện từng pho tượng Kim Cương trợn mắt quắc nhìn tiểu cô nương cũng chẳng mảy may sợ hãi, vừa chọc chọc vào hòm công đức xong lại chạy đi gõ mõ, gây ra không ít tiếng động. Lý Hoài Tín túm cổ áo xách nhóc con đặt lên bồ đoàn: “Quỳ xuống!”

Nhất Tảo chống đối hắn: “Làm gì?!”

“Mạo phạm thần linh, không muốn quỳ thì ngồi yên đó.”

Nhất Tảo bĩu bĩu môi, cái mông nhỏ ịch một cái lên bồ đoàn, ngồi lì ra đó. Trinh Bạch đứng giữa đại điện, nhìn thẳng vào tượng Thiên Vương, ánh mắt có phần sắc lạnh.

Chừng nửa nén hương sau, tăng đồ kia xin chỉ thị xong quay lại, dẫn họ tới khách đường, là nơi khách thập phương và cư sĩ thường ngày ở lại qua đêm.

Đi ngang qua Pháp đường, bên trong vọng ra tiếng tụng kinh, mấy chục tăng đồ ngồi xếp bằng trong điện, trầm giọng đồng thanh tụng niệm, dư âm văng vẳng bên tai.

Nhất Tảo tò mò: “Bọn họ đang niệm gì thế?”

Tăng đồ dẫn đường đáp: “Phật Thuyết A Di Đà Kinh.”

Bọn họ nhìn vào bên trong, vị trụ trì ngồi chính diện đại điện mở mắt, phẳng lặng không gợn chút sóng, dõi theo mấy người đi qua, cuối cùng khẽ lẩm bẩm một câu: “Vậy mà lại có tà ma lẫn vào Hoa Tạng Tự.”

Câu nói ấy lẫn trong tiếng tụng niệm trầm thấp, khẽ như một tiếng thở dài nhưng vẫn bị Trinh Bạch nghe thấy. Bước chân nàng hơi khựng lại, rồi lại nhanh chóng bước tiếp.

Lý Hoài Tín đang hỏi: “Giờ này trong chùa còn cơm chay không?”

Tăng đồ đáp còn, dẫn họ tới chỗ ở đặt hành lý rồi vòng sang trai đường. Nhất Tảo chẳng mặn mà gì với rau xanh củ cải, một mình chạy ra ngoài đi lang thang. Lý Hoài Tín còn chưa kịp dặn tiểu quỷ này đừng chạy lung tung thì chớp mắt đã chẳng thấy bóng dáng đâu: “Con nhóc quỷ này gan to quá, trong chùa thiếu gì cao tăng, đụng phải thì nó no đòn!”

Dù sao giờ này mọi người đều đang làm khóa tối, những vị đức cao vọng trọng đều tụ tập trong Pháp đường tụng kinh, tăng đồ ra tiếp đón họ chỉ là người gác cổng chạy việc, không có đạo hạnh tu vi gì tất nhiên không nhìn ra Nhất Tảo là một tiểu nghiệt chướng. Con nhóc thì hay rồi, chẳng để tâm chút nào, nghênh ngang không kiêng nể gì ở thánh địa Phật môn.

Lý Hoài Tín ăn vài miếng cơm chay, quả thực nhạt nhẽo đến mức chẳng buồn nuốt. Trinh Bạch ngược lại không kén ăn, cho gì ăn nấy. Mà nhà Phật cho rằng cơm ăn là của mười phương bố thí, không được lãng phí, Lý Hoài Tín nhập gia tùy tục, bản thân ăn không nổi liền dứt khoát gắp hết sang đĩa của Trinh Bạch.

Trinh Bạch nhìn chằm chằm đĩa cơm chay chất cao như ngọn núi nhỏ trước mặt, ngước mắt lên: “Chẳng phải ngươi ăn củ cải với rau xanh sao?” Nàng nhớ hắn chỉ kén ăn không ăn đậu thôi mà.

Lý Hoài Tín thì nói: “Ta ăn loại củ cải và rau xanh được nấu ngon cơ, cái này ăn không ngon.”

Trinh Bạch rũ mắt ăn chay, bâng quơ hỏi: “Không phải đói sao?”

“Lát nữa ta đến trước tượng Phật xin vài quả cúng.”

Trinh Bạch liếc hắn một cái, không thèm đáp lời nữa.

Ăn xong một bữa cơm, Nhất Tảo vẫn chưa về, Lý Hoài Tín thấy vậy không yên tâm. Thấy khóa tối của đám hòa thượng kia sắp kết thúc, cũng chẳng biết tiểu quỷ này lượn tới chỗ nào rồi, lỡ đâu chuốc phải phiền phức. Hắn định đi tìm, lại nghĩ Trinh Bạch cũng là người chẳng có “hơi người”, không tiện dẫn theo nghênh ngang trong chùa, bèn bảo nàng về nghỉ trước, một mình đi tìm.

Tuyết đã ngừng rơi, phủ kín lên nền đá xanh và tường đỏ ngói biếc, khắp sân trắng xóa một màu. Ở góc đông nam có một cây bồ đề, lá đã rụng sạch, thân cây to khỏe, vì không chịu được sương giá nên phần gốc được các tăng nhân dùng rơm rạ quây quanh.

Lý Hoài Tín đi qua dưới gốc bồ đề, bước vào một cửa vòm, hai bên đông tây là lầu chuông và lầu trống. Hắn lượn một vòng nhưng không thấy bóng dáng Nhất Tảo đâu. Quay người định đi thì bỗng trong đầu như bị búa tạ nện một cú, đau đến tối sầm mắt, hai chân suýt nữa đứng không vững. Hắn lảo đảo tựa vào cây cột đỏ bên cạnh, tì mạnh trán vào đó cắn răng nhịn cơn đau quặn thắt, lấy tay day ấn thật mạnh, trong lòng lấy làm lạ: “Phát cái chứng đau đầu kỳ quái gì thế này?!”

Đã là lần thứ hai rồi, lần này đau đến hoa cả mắt, thế nhưng vừa ngẩng đầu lên, hắn lại nhìn rõ mồn một cái chuông chùa treo tít trên đỉnh lầu chuông đằng xa. Rõ đến mức nào ư, chính là thấy rành rành dòng chữ khắc trên chuông: “Lìa địa ngục, thoát hố lửa, nguyện thành Phật, độ chúng sinh”.

Nhưng đau quá, hắn căn bản không kịp nghĩ kỹ. Bầu trời tối đen như vậy, định thần nhìn kỹ lại, cũng chỉ thấy hình dáng đại khái của một chiếc chuông phạn treo trên đỉnh lầu.

Đợi cơn đau dữ dội ấy qua đi sau lưng đã vã một lớp mồ hôi lạnh. Lý Hoài Tín lắc lắc đầu, chợt nhìn thấy ở cuối hành lang có một bóng trắng sượt qua. Hắn vội đuổi theo, vừa rẽ qua bóng trắng ấy lại thấp thoáng ở cuối một lối đi khác, Lý Hoài Tín đuổi theo nó, nó lại vụt biến sau một cửa vòm. Hắn giật mình cảnh giác: Thứ quái gì đây?!

Rồi hắn bám riết không buông, tới bên ngoài hàng lan can chạm trổ cuối cùng cũng nhận ra đó là một hòa thượng trẻ tuổi mặc áo bào trắng, cổ đeo chuỗi bồ đề. Chỉ có điều hòa thượng này trông thật kỳ lạ, bước đi rất nhanh, hối hả lướt qua như đạp gió mà đi, lại dường như hờ hững chẳng để tâm, lang thang giữa trời băng đất tuyết, trên người chỉ khoác một lớp tăng bào trắng mỏng manh.

Là một hòa thượng không sợ lạnh.

Y cuốn theo luồng gió rét, đẩy cửa tăng xá bước vào.

Lý Hoài Tín tiến lại gần nhưng vẫn cách một lối đi, lặng lẽ không một tiếng động vì sợ kinh động đến y. Hắn đứng dưới chân cột hành lang, nhìn vào trong.

Vì không có tóc, đường nét cổ của vị hòa thượng ấy rất đẹp. Y đứng nghiêng người đối diện cửa sổ, lưng thẳng tắp như cán thương, góc nghiêng sườn mặt anh tuấn rắn rỏi, rất tuấn tú.

Vì quá tuấn tú nên trông chẳng giống hòa thượng chút nào, khổ nỗi y lại cạo đầu quy y, mặc áo cà sa, đeo tràng hạt.

Chẳng hiểu vì sao Lý Hoài Tín cảm thấy có chút tiếc nuối. Dẫu sao với dung mạo và phẩm cách nhường này, đáng lẽ phải tung hoành phóng khoáng chốn hồng trần mới phải. Xuất gia cái gì, làm hòa thượng cái gì, đúng là lãng phí của trời.

Vị hòa thượng kia rũ mắt, hàng mi vừa dài vừa thẳng rủ bóng xuống sống mũi cao thẳng. Tay trái y bưng một chiếc đĩa trà, tay phải cầm một lưỡi dao mỏng như cánh ve. Y kẹp dao mỏng giữa các ngón tay đi tới bên án thư, nhẹ nhàng tỉ mỉ cạo khối trầm hương đặt nằm trên án. Dáng vẻ không vội không vàng ấy khiến Lý Hoài Tín nhìn mà lòng lắng xuống, khí tĩnh lại, dễ chịu như được xoa dịu, thậm chí cơn đau đầu cũng tan đi quá nửa.

Hòa thượng cạo ra một nhúm bột trầm rồi nghiêng đầu nhìn ra ngoài qua khung cửa sổ.

Bốn mắt nhìn nhau, Lý Hoài Tín nhướng mày.

“Bên ngoài hành lang sương giá lạnh lẽo, thí chủ vẫn nên vào trong phòng đi.”

Lý Hoài Tín bèn đường hoàng bước vào, đúng mực đúng lễ: “Quấy rầy rồi.”

Hòa thượng mời hắn ngồi, rồi bưng tới một chiếc lò đồng hình hoa sen vàng, hoa văn nổi chạm rỗng, tay nghề tinh xảo, kích cỡ cỡ bằng bàn tay, là một vật dụng đốt hương.

Lý Hoài Tín nhìn y thuần thục rải rồi nén lớp tro lót trong lư: “Tiểu sư phụ vì sao lại dẫn ta tới đây?”

Tay hòa thượng khựng lại, rồi y không lộ dấu vết đặt thanh nén tro xuống, sau đó nhẹ nhàng đặt khuôn triện hương nằm phẳng lên lớp tro đã rải, dùng thìa hương múc bột trầm trong đĩa trà, từng chút một lấp đầy khuôn, gạt cho phẳng: “Bần tăng pháp hiệu Không Chu.”

Y chẳng buồn ngước mắt, hỏi một đằng trả lời một nẻo.

Lý Hoài Tín đổi sang một tư thế ngồi thoải mái, thả lỏng người: “Không phải dẫn ta tới xem ngươi đốt hương đấy chứ?”

Không Chu nhấc khuôn triện lên, tay rất vững, không vương vãi chút nào, như thể động tác này đã làm hàng nghìn hàng vạn lần.

Hương trong lư đã thành hình, là một ấn chữ Phạn.

“Thí chủ vừa rồi đi lung tung trong chùa, suýt nữa lạc vào cấm địa.” Không Chu nói: “Bần tăng chẳng qua là ra mặt chỉ đường thôi.”

Lý Hoài Tín tiện tay lật một cuốn “Lăng Nghiêm Kinh” trên bàn, bắt chuyện: “Không Chu sư phụ vẫn luôn ở chỗ này sao?”

Không Chu châm hương, đốm lửa nhỏ như hạt đậu, lúc tỏ lúc mờ: “Đúng vậy.”

Triện hương vừa bén lửa, một làn khói mảnh bốc thẳng lên cao.

Lý Hoài Tín hỏi: “Bao lâu rồi?”

Không Chu có phần nghi hoặc, không hiểu vì sao hắn lại hỏi vậy, nhưng vẫn thành thật đáp: “Mười ba năm.”

Lý Hoài Tín chau mày, ngón tay dài đè lên trang kinh đang mở, ánh mắt lại nhìn chằm chằm làn khói lượn lờ trên án, mùi hương thanh khiết thuần hậu, giúp người tĩnh tâm. Lý Hoài Tín thấy hòa thượng này kỳ lạ, vẫn luôn đề phòng, thế nhưng toàn thân lại dần dần rã rời.

Là do hương này sao?

Không, hương không có vấn đề!

Lẽ nào là do hòa thượng này?

Lý Hoài Tín rã rời gục xuống cuốn kinh, đè quăn cả góc trang, ngước mắt nhìn hòa thượng.

Không Chu đứng dậy: “Đêm đã khuya, trong chùa không tiện đi lại, thí chủ cứ nghỉ lại đây đi, sáng mai xin hãy mau chóng rời đi.”