Trùng Sinh Chi Nữ Tướng Tinh – Chương 199
TÂM DUYỆT QUÂN HỀ*
*Lòng này yêu mến chàng, cụm từ này xuất phát từ bài Việt Nhân Ca (越人歌) – một bài ca cổ nổi tiếng thời Xuân Thu, câu đầy đủ là “Núi có cây thì cây có cành, lòng yêu mến chàng nhưng chàng nào có hay” (Baidu)
Màn đêm buông xuống bao trùm lên bãi đất hoang.
Trong một gian nhà tranh tồi tàn, có bóng người thu mình trong góc tường, đôi môi mấp máy không ngừng, chẳng rõ đang lẩm bẩm điều chi.
“Thiếu gia, tìm được người rồi. Tay sai của Từ Kính Phủ đang ráo riết truy sát họ, hai huynh đệ này hiện tại thần trí đã có phần không mình mẫn, e là phải đưa về thành nhờ Lâm công tử xem xét.” Loan Ảnh đứng cạnh Tiêu Giác, khẽ giọng bẩm báo.
Đây chính là những người may mắn sống sót sau trận chiến ở Minh Thủy.
Năm xưa ở Minh Thủy, đạo quân do Tiêu Trọng Võ thống lĩnh gần như toàn quân bị diệt. Trong đám tâm phúc phó tướng, ngoại trừ Sài An Hỉ, chẳng còn ai sống sót. Những tàn quân sống sót cũng rơi rụng dần theo năm tháng. Cái chết của họ ra sao, có uẩn khúc gì không, nay chẳng còn ai bận tâm. Trận chiến ấy đã trôi qua năm năm, có lẽ trên thế gian này, ngoại trừ nhi tử của Tiêu Trọng Võ, chẳng còn ai hoài niệm về vị Quang Vũ tướng quân đã khuất, cũng chẳng ai thiết tha tìm hiểu âm mưu nham hiểm giăng mắc đằng sau thất bại nổi tiếng ấy.
“Không còn cách nào khác sao?” Tiêu Giác cau mày, “Tình trạng này e là họ không trụ nổi đến lúc về thành.”
“Lúc xuất phát vội vã, thuộc hạ chỉ mang theo kim sang dược trị thương, chứ không mang theo thuốc an thần định tâm.” Loan Ảnh lắc đầu, “Người của Từ Kính Phủ truy sát họ ròng rã bảy ngày bảy đêm, hai người họ không được chợp mắt lấy một canh giờ mới dẫn đến kiệt sức thế này.”
Kiểu chiến thuật luân xa chiến quả thực vô cùng hao tổn tinh thần, đặc biệt là những cuộc truy sát bám gót không ngừng nghỉ. Tiêu Giác trầm ngâm một lúc, rồi gỡ từ bên hông xuống một chiếc túi thơm. Đó chính là chiếc túi thơm Bạch Dung Vi tự tay làm, do Hòa Yến trao lại cho hắn. Hắn nắn nắn chiếc túi, tháo sợi dây rút, bên trong là một tấm bùa bình an nhỏ xíu cùng ít thảo dược. Nghe Hòa Yến nói, thứ này có tác dụng an thần.
Tiêu Giác trút thảo dược ra, đưa cho Loan Ảnh: “Cầm lấy cho họ ngửi một chút. Đêm nay không đi nữa, tìm chỗ khác đổi chỗ trú, để họ nghỉ ngơi một đêm lấy sức.”
Loan Ảnh vâng lệnh.
Theo dấu Từ Kính Phủ và điều tra thảm án Minh Thủy bao năm qua, nay mới tìm được hai nhân chứng còn sống, quả thực không dễ dàng gì. Nhưng điều đó cũng minh chứng rằng, bản lĩnh của Tiêu Giác bấy lâu nay đã âm thầm trui rèn đến mức đủ sức đối chọi với Từ Kính Phủ, bằng chứng là lần tranh đoạt nhân chứng này, hắn đã thắng một nước cờ.
Nơi này không thể nán lại lâu, phải tìm chỗ khác nương thân. Họ tìm đến một hộ dân ở ngoại ô, đám người cùng hai huynh đệ thần trí bất minh kia mới tạm bề yên ổn.
Xích Ô và Phi Nô canh gác trước cửa phòng hai huynh đệ nọ, đề phòng bất trắc trong đêm. Loan Ảnh thì ra ngoài nghe ngóng động tĩnh. Màn đêm chốn hoang dã luôn quạnh quẽ lạ thường. Đặc biệt là lúc vào thu, mười mấy dặm quanh đây chẳng thấy bóng người, chỉ có vầng trăng vằng vặc soi bóng xuống khoảng đất trống trải, tựa dải bạc chảy tràn, vô cớ gợi nên vài phần thê lương.
Thực tâm hắn không thích Trung thu. Lễ Trung thu luôn khơi lại những ký ức tồi tệ chẳng mấy êm đẹp trong lòng hắn. Trăng càng tròn, lòng người lại càng lẻ loi. Cứ mỗi năm gần đến ngày này, hắn lại trằn trọc khó ngủ. Những năm trước ở quân doanh còn có thể vùi đầu vào đống công văn đến nửa đêm canh ba, nay về đến Sóc Kinh, ở nơi này quả thực chẳng thể làm được gì.
Tiêu Giác cúi xuống nhìn chiếc túi thơm trên tay. Số thảo dược bên trong đã được trút sạch, chỉ còn lại một lớp vải xẹp lép, bên trong là một tấm bùa bình an nhỏ xíu. Nghĩ ngợi một lúc, hắn mở túi thơm ra, định bụng nhét tấm bùa lại vào trong.
Dẫu do tỳ nữ Tiêu gia thêu, nhưng chất liệu và hoa văn đều do Bạch Dung Vi tự tay lựa chọn. Bạch Dung Vi xưa nay vẫn luôn vô cùng tỉ mỉ trong chuyện này, nên chiếc túi thơm được làm rất tinh xảo. Lướt ngón tay qua mặt vải, tấm lụa mát rượi tựa ánh trăng.
Ánh mắt Tiêu Giác bỗng chốc khựng lại, ngay sau đó, đầu ngón tay lướt vào mặt trong của chiếc túi, chạm phải một vết lồi lõm sần sùi. Vết lồi lõm này nằm lọt thỏm giữa bề mặt lụa là phẳng phiu, quả thực vô cùng lạc lõng. Hắn rũ mắt, lộn ngược chiếc túi thơm ra.
Mặt trong chiếc túi hiện ra trước mắt Tiêu Giác.
Chiếc túi này được thêu hai lớp, mặt trong là một mảnh vải đen bình thường, không thêu hoa văn gì. Ấy vậy mà ngay lúc này, trên mảnh vải lót ấy lại chễm chệ một hình cong cong, thêu bằng chỉ vàng chóe xiêu vẹo, chẳng nhìn ra là cái gì. Nhưng có thể thấy rõ, tay nghề của người thêu quả thực “thảm họa”, đến cả chỉ thừa cũng chưa cắt gọt sạch sẽ.
Nói thế nào nhỉ, hình mãng xà đen uy dũng bên ngoài và cái sừng vàng vẹo vọ bên trong, thực sự không giống như tác phẩm của cùng một người.
Thế này là sao? Tiêu Giác nhướng mày. Tay nghề của Bạch Dung Vi cao siêu hơn thế này nhiều, tỳ nữ Tiêu gia mà thêu thùa kiểu này mang ra ngoài chắc sẽ thành trò cười cho thiên hạ. Chiếc túi thơm này do Hòa Yến đưa cho hắn, trong cả cái Tiêu gia này, người có thể biến nghệ thuật thêu thùa thành cái dạng này, ngoài Hòa đại tiểu thư ra thì chẳng còn ai khác.
Hắn lật đi lật lại ngắm nghía chiếc túi, cố tìm xem Hòa Yến có thêu thêm gì nữa không, nhưng không, ngoại trừ cái góc cong vẹo vọ màu vàng này nàng chẳng thêu thêm gì.
Khóe miệng Tiêu Giác giật giật.
Nàng lôi túi thơm của hắn ra làm vật thí nghiệm nữ công sao? Lại còn lén lút, giấu giếm tinh vi thế này, nếu không vì phải lấy thảo dược ra chắc cả đời này hắn cũng chẳng bao giờ phát hiện bí mật bên trong. Nhưng làm chuyện này thì có ý nghĩa gì? Nếu chỉ để luyện thêu, nàng hoàn toàn có thể tìm một chiếc khăn tay trắng mà thêu cho đã đời, đằng này lại giấu kín vào mặt trong, cứ có cảm giác ẩn chứa thâm ý nào đó mà hắn chưa hiểu rõ.
Đang lúc ấy, từ bãi hoang vọng lại tiếng bước chân dồn dập. Một thiếu niên trạc mười hai, mười ba tuổi lon ton chạy đến bên hắn, cười hì hì: “Thiếu gia!”
Đứa trẻ này là nhi tử của Loan Ảnh, tên Bạch Nhàn. Cậu bé dung mạo tuấn tú, đường nét giống Loan Ảnh như đúc, chỉ là tuổi còn nhỏ, hai má bầu bĩnh, trông rất đỗi ngây ngô đáng yêu. Trái ngược hoàn toàn với người mẹ lạnh lùng như sương giá, Bạch Nhàn giống hệt những thiếu niên đồng trang lứa, hồn nhiên ngây thơ, thậm chí còn hơi lắm lời.
Cậu nhóc này rất quý Tiêu Giác. Dù Loan Ảnh đã nhiều lần răn đe phải biết giữ phép tắc trên dưới, không được vô lễ, nhưng Bạch Nhàn nào có để tâm. Tiêu Giác cũng chẳng mấy khi chấp nhặt, nên hễ vắng mặt mẹ là y như rằng cậu nhóc cứ thấy Tiêu Giác là bám dính lấy.
Bạch Nhàn liếc mắt là tia ngay thấy chiếc túi thơm trong tay Tiêu Giác. Mắt cậu bé rất tinh, giữa đêm đen mờ mịt thế này mà vẫn nhìn thấu hình thêu bên trong lớp vải lót, buột miệng kêu lên: “Ô kìa? Hình trăng khuyết này thêu đẹp quá!”
“… Trăng khuyết?” Tiêu Giác sững người.
Bạch Nhàn đáp đầy tự tin: “Thiếu gia nhìn mà xem, màu vàng nè, hình cong cong, không phải trăng khuyết thì là gì!” Cậu bé xích lại gần hơn một chút, nhón gót chân săm soi hình thêu trong tay Tiêu Giác, tặc lưỡi khen ngợi: “Mảnh vải lót màu đen tượng trưng cho đêm tối, vầng trăng khuyết thêu lên đó, chính là mặt trăng tỏa sáng giữa đêm đen, tượng trưng cho thiếu gia. Ngài chính là vầng trăng sáng giữa đêm trường, chói lọi, rực rỡ!” Đứa trẻ càng nói càng hưng phấn, hạ giọng hỏi dò vẻ bí hiểm: “Thiếu gia, đây là do vị tỷ tỷ nào đó tặng ngài đúng không?”
Tiêu Giác: “…”
Hắn thoáng chốc bối rối, vội vã giấu chiếc túi thơm đi: “Không phải.”
“Sao lại không phải được chứ?” Bạch Nhàn thắc mắc: “Nếu không phải tay nữ nhân, nam nhân làm sao thêu được một tác phẩm tuyệt mỹ như thế này?”
Tiêu Giác thật sự hoài nghi liệu Bạch Nhàn có phải là đệ đệ ruột của Hòa Yến hay không, bởi mắt thẩm mỹ của bọn họ quả thực “xuất sắc” như nhau.
Bạch Nhàn còn định hỏi thêm thì đằng sau bỗng vang lên tiếng quát giật giọng: “Bạch Nhàn!”
Bạch Nhàn giật bắn mình, chạy tót ra nấp sau lưng Tiêu Giác, “Mẹ… con chỉ ra ngoài đi vệ sinh, vô tình gặp thiếu gia thôi mà.”
Loan Ảnh tóm tai lôi cậu nhóc từ sau lưng Tiêu Giác ra, “Đã dặn bao nhiêu lần là không được làm phiền thiếu gia rồi, sao con chẳng chịu nghe lời thế? Thiếu gia, thứ lỗi cho, thuộc hạ đưa thằng nhóc này về ngay đây!”
Loan Ảnh lôi xệch Bạch Nhàn đi mất, nơi bãi hoang chỉ còn lại một mình Tiêu Giác.
Ánh trăng bàng bạc chiếu xuống đồng hoang tối thẳm, nhuộm trắng xóa lớp đất mộc mạc, tựa như tuyết rơi trên dòng sông ở Lương Châu Vệ, mang theo hơi thở buốt giá thấm đẫm không gian.
Trăng kia vô tình, mộng quy hữu ý, hắn khẽ nhếch khóe môi, quay người định bước đi, nhưng bỗng khựng lại. Như chợt nhớ ra điều gì, hắn ngước mắt lên nhìn vầng trăng.
Trong ký ức, giữa đám đông náo nhiệt cười đùa ồn ào, trên đài cao, có một cô nương giấu mặt sau lớp mặt nạ, hờ hững nói những câu bâng quơ.
“Bí mật cuối cùng,” nàng kiễng chân, ghé sát vào cằm hắn, giọng thì thầm khe khẽ, “Ta thích ánh trăng.”
“Nhưng ánh trăng không biết.”
…
Ngày tiến cung cuối cùng cũng đã đến.
Tiêu Cảnh và Bạch Dung Vi cũng có mặt trong cung. Nghe tin Hòa Yến không đi cùng họ mà lại đi cùng Lâm Song Hạc, hai người có chút ngạc nhiên, nhưng vốn là người tinh tế biết cảm thông, họ không gặng hỏi thêm. Khi xe ngựa của Lâm Song Hạc tới, hai người ân cần tiễn Hòa Yến lên xe, dặn dò vào cung sẽ gặp lại.
Lâm Song Hạc ngồi vắt vẻo trong xe ngựa, phe phẩy chiếc quạt giấy, “Chắc Hoài Cẩn sợ muội nói chuyện không hợp với Như Bích huynh, chúng ta đều là bạn chí cốt, ở chung với nhau tự nhiên hơn.” Hắn lại lướt mắt đánh giá Hòa Yến một lượt, rồi xuýt xoa: “Hôm nay Hoài Cẩn không về kịp quả là tổn thất lớn. Hòa muội muội nhà ta diện bộ nam trang lộng lẫy này anh khí ngời ngời. Cùng ta sánh bước vào cung, bá quan văn võ hôm nay tuyệt nhiên không ai có thể làm lu mờ hào quang của hai ta.”
Hòa Yến đang mải suy nghĩ chuyện khác, chỉ ậm ừ qua quýt. Thấy thái độ của nàng, Lâm Song Hạc lại tưởng nàng đang lo lắng vì lần đầu tiến cung, vội trấn an: “Đừng sợ, Hòa muội muội, có vi huynh ở đây rồi. Trong cung ta quen lối đi lại, muội cứ đi ngang đi dọc cũng được, chỉ cần không giết người phóng hỏa, còn lại cứ để gia gia ta lo.”
Tên này chắc hẳn đã quen thói hố cha, hố gia gia rồi nên nay nhân tiện lôi luôn cả Hòa Yến vào.
Xe ngựa lao đi vun vút, chẳng biết đã qua bao lâu, cuối cùng cũng đến cổng cung. Bọn thị vệ gác cổng đã quá nhẵn mặt xe ngựa của Lâm Song Hạc. Lâm Song Hạc và Hòa Yến xuống xe ngựa, theo sự dẫn dắt của thái giám bước vào trong.
Đây là lần đầu tiên Hòa Yến tiến cung.
Nếu là kiếp trước vào thời điểm này, hẳn nàng sẽ cảm thấy hồi hộp và lo âu, bởi sắp được diện kiến nhan thánh và nhận phong thưởng. Nhưng đã trải qua một lần cửa tử, nàng sớm hiểu rõ vinh hoa phú quý cũng chỉ là phù du. Lần này nàng vào cung không phải vì tương lai, mà là để giải quyết một món nợ từ kiếp trước.
Uốn lượn qua những dãy hành lang và ngự hoa viên, băng qua tiền điện, cung yến lần này của bệ hạ thực chất là tiệc mừng công. Quan khách tham dự đều là những người có máu mặt trong triều, đến như Lâm Song Hạc cũng dựa hơi Lâm Thanh Đàm và Lâm Mục mới có thể trà trộn vào.
Trong tiền điện, quan viên đã tề tựu đông đủ. Hòa Yến đảo mắt nhìn quanh, vẫn chưa thấy bóng dáng phu thê Tiêu Cảnh đâu, Lâm Song Hạc hạ giọng: “Chúng ta đi đường tắt, Như Bích huynh chắc đi đường chính, có lẽ sẽ tới trễ chút. Không sao đâu Hòa Yến, muội cứ bám theo ta, lát nữa có ai ra chào hỏi, đệ cứ xưng danh tánh ra, làm quen thêm nhiều người.”
Lời vừa dứt, đã có giọng nói cất lên: “Lâm Song Hạc!”
Nhưng người này không phải đến để kết giao với Hòa Yến, mà là Yến Hạc. Hắn mặc quan phục, đứng cạnh là một nữ tử dung mạo thanh tú, ôn uyển. Dẫu không phải tuyệt sắc giai nhân, nhưng rất ưa nhìn. Nàng mỉm cười khẽ cúi đầu chào Lâm Song Hạc, “Lâm công tử.”
Đây chính là Hạ Thừa Tú, thê tử của Yến Hạc.
Yến Hạc bản tính vốn ngông cuồng, ngang ngược, giữa chốn đông người mà dám quàng tay ôm vai Hạ Thừa Tú, rồi hất cằm về phía Hòa Yến, “Thừa Tú, đây chính là người ta từng kể, tri kỷ cùng chung chí hướng ghét cay ghét đắng Hòa Như Phi đấy. Nhưng giờ cậu ta là người của Tiêu Hoài Cẩn rồi,” Hắn quay sang Hòa Yến, “Ngươi có muốn về phe ta làm việc không?”
Chưa kịp để Hòa Yến lên tiếng, Lâm Song Hạc đã làm bộ chính trực xua tay gạt phắt: “Không được! Đã phò tá ai thì phải trung thành đến cùng, làm gì có chuyện nửa đường đứt gánh đổi chủ?”
Yến Hạc ngớ người: “Chuyện này mà cũng cần trung thành đến cùng?”
“Chẳng lẽ trong thâm tâm ngươi là hạng người nay Tần mai Sở, đứng núi này trông núi nọ?” Lâm Song Hạc quay sang nhìn Hạ Thừa Tú, “Tẩu phu nhân, ta thực sự lo lắng cho tẩu.”
Hạ Thừa Tú: “…”
Yến Hạc nổi trận lôi đình: “Lâm Song Hạc, ngươi ngậm miệng lại cho ta, có kẻ nào ăn nói ly gián trắng trợn như ngươi không?”
Lâm Song Hạc nhếch mép: “Ngươi biết là tốt rồi.”
Yến Hạc bực dọc chửi thề vài câu rồi ôm Hạ Thừa Tú bỏ đi. Lâm Song Hạc lúc này mới thở phào nhẹ nhõm. Vừa định ngoảnh sang hỏi han Hòa Yến, hắn chợt thấy ánh mắt nàng đang dán chặt về một hướng. Nương theo tầm mắt ấy, hắn thấy cách đó không xa, một tốp người đang trò chuyện. Đứng giữa là một nam tử trẻ tuổi vận trường bào, dung mạo thanh tao, nho nhã, không ai xa lạ, chính là Hàn lâm học sĩ Hứa Chi Hằng.
Lâm Song Hạc có chút khó hiểu. Hòa Yến cứ nhìn chằm chằm như vậy, người ngoài không biết còn tưởng nàng để ý Hứa Chi Hằng rồi. Cơ mà Hứa Chi Hằng đã yên bề gia thất, xét về vẻ nho nhã thanh tú thì Sở Chiêu cũng chẳng kém cạnh, so với Sở Chiêu, Hứa Chi Hằng còn kém xa.
Lẽ nào… không với tới được Sở Chiêu nên muốn tìm người thế thân? Đầu óc Lâm Song Hạc rối rắm như một mớ bòng bong.
Phía bên kia, Hứa Chi Hằng dường như cũng nhận ra có ánh mắt đang dõi theo mình, bèn đưa mắt nhìn lại. Hòa Yến hoàn toàn là khuôn mặt xa lạ giữa chốn này, Hứa Chi Hằng chưa từng gặp, nhưng hắn lại biết Lâm Song Hạc. Lâm Song Hạc vốn không có chức quan, nhưng hai cha con Lâm Thanh Đàm và Lâm Mục đều rất giỏi giao tiếp chốn quan trường. Đa số các quan lại trong triều đều có mối quan hệ giao hảo với Lâm gia, chí ít cũng không ai dại gì gây thù chuốc oán. Thấy Lâm Song Hạc đang nhìn mình, Hứa Chi Hằng thoáng chút bất ngờ, sau đó liền cáo lỗi với đám đồng liêu, rảo bước đi về phía Lâm Song Hạc.
“Lâm huynh.” Hắn dừng bước trước mặt Lâm Song Hạc, giọng nói vô cùng nhã nhặn, “Lâu rồi không gặp.”
Lâm Song Hạc biết Hứa Chi Hằng, nhưng cũng chỉ là quen biết xã giao, chẳng hề thân thiết. Nhưng bản tính lươn lẹo, hắn liền thuận miệng đáp: “Phải rồi, đi một vòng quanh Lương Châu, cuối cùng vẫn thấy Sóc Kinh nhà ta là nhất. À đúng rồi, xin giới thiệu, đây là bằng hữu ta mới kết giao ở Lương Châu.”
Hòa Yến ngước mắt nhìn Hứa Chi Hằng.
Đã hơn hai năm, thấm thoắt sắp ba năm kể từ lần cuối cùng nàng “nhìn” thấy Hứa Chi Hằng. Trong ký ức của nàng, Hứa Chi Hằng là một kẻ dịu dàng, ân cần, hoặc ít nhất, lớp vỏ bọc tuấn tú ấy dư sức lừa gạt lòng người. Giờ gặp lại, chẳng biết có phải do tâm sinh tướng hay không, gương mặt Hứa Chi Hằng trông khắc nghiệt và cay nghiệt hơn hẳn.
Hắn gầy sọp đi nhiều, bộ quan phục rộng thùng thình càng làm tôn lên vóc dáng tiều tụy, còng còng. Cũng vì quá gầy gò nên nét mặt có phần già nua đi, ngay cả nụ cười cố gượng gạo nở trên môi cũng trở nên đơ cứng lạ thường.
Hứa Chi Hằng cũng đang dò xét người đối diện.
Đó là một thiếu niên khôi ngô tuấn tú, đôi mày toát lên vẻ oai phong lẫm liệt. Bộ trường bào cổ tròn màu đỏ rực rỡ càng tôn lên làn da trắng ngần và đôi môi đỏ hồng, thắt lưng đen ôm trọn vòng eo mảnh khảnh, khắc họa một vóc dáng đẹp đến nao lòng. Điểm thu hút nhất chính là đôi mắt kia, rõ ràng mang hình dáng nhu tình mềm mại, nhưng ánh nhìn lại sắc lẹm như dao. Vị thiếu niên này lúc nãy đứng từ xa đã chằm chằm nhìn hắn, rõ ràng là lần đầu gặp gỡ, nhưng trong ánh mắt ấy lại như cuộn trào đủ mọi cung bậc cảm xúc: lạnh lẽo, u ám, hệt như đã nhìn thấu mọi lớp ngụy trang của hắn, khiến lòng người bất chợt hoảng sợ.
Hứa Chi Hằng cảm thấy rờn rợn trước ánh mắt đó, bèn chuyển hướng sang Lâm Song Hạc, “Vị này là…”
“Hứa đại nhân, đừng thấy vị tiểu huynh đệ này còn nhỏ tuổi mà xem thường, ngài ấy nay đã là Võ An Lang do bệ hạ đích thân sắc phong, tên là Hòa Yến. Sau này sẽ là đồng liêu cùng triều với chúng ta đấy.”
Hứa Chi Hằng vốn đang nở nụ cười lắng nghe, nhưng vừa nghe đến câu cuối, nụ cười trên môi bỗng chốc đông cứng, lắp bắp hỏi: “Ngươi nói… cậu ta tên gì?”
“Hứa đại nhân,” Hòa Yến cười tủm tỉm nhìn hắn, “Tại hạ tên là Hòa Yến. Hòa trong hòa miêu, Yến trong hà thanh hải yến.”
Sắc mặt Hứa Chi Hằng tái nhợt đi trông thấy.
Thiếu niên trước mặt khóe môi hơi nhếch lên, trông vừa hiền lành lại có phần rụt rè ngây ngô. Nhưng nếu nhìn sâu vào đôi mắt ấy, tuyệt nhiên không tìm thấy chút ý cười nào, chỉ là một mặt hồ lạnh lẽo đến thấu xương, dường như lôi tuột người ta về cái buổi chiều oan nghiệt ấy, cảnh tượng nữ nhân trẻ tuổi vùng vẫy tuyệt vọng chìm dần xuống đáy nước sâu, cảm giác ngột ngạt nghẹt thở lập tức ập tới chẹn cứng cổ họng.
Cổ họng hắn khô khốc, cứng đờ, đến mức không thể thốt nên một câu trọn vẹn.
May thay, lúc này có người gọi tên Lâm Song Hạc. Hóa ra là Lâm Thanh Đàm. Lâm Song Hạc bèn kéo Hòa Yến đi, nói: “Hòa huynh, đó là tổ phụ của ta, để ta dẫn đệ đi diện kiến ngài.”
Người trước mặt đã đi khuất.
Hứa Chi Hằng suýt chút nữa đã ngỡ cái tên vừa nghe thấy chỉ là một giấc mộng, một ảo giác sinh ra do tinh thần bất ổn dạo gần đây. Tuy nhiên, khi ngước mắt nhìn lên, bóng dáng thiếu niên đang đứng cạnh Lâm Song Hạc, trò chuyện cùng Lâm Thanh Đàm đằng xa kia… lại là minh chứng rõ ràng nhất cho hiện thực.
Quả thực có một người tên là “Hòa Yến” xuất hiện sừng sững trước mặt hắn.
Mồ hôi lạnh vã ra như tắm, một vài đồng liêu tinh ý nhận ra sự bất thường của hắn, liền quan tâm hỏi han, “Hứa đại nhân, ngài sao thế? Sắc mặt tệ quá? Trong người không khỏe sao?”
Hứa Chi Hằng cố gượng cười, vẫy vẫy tay, “Không sao.” Hắn quay người lẩn vào một góc khuất, không muốn ai nhìn thấy vẻ kinh hoàng tột độ trên gương mặt mình.
Hắn cuộn chặt những ngón tay lại, cố gắng tự trấn an bản thân. Tên là Hòa Yến thì đã sao? Trên đời này, thiếu gì người trùng họ trùng tên. “Hứa đại phu nhân” đã chết rồi, chính tay hắn đã chứng kiến nàng bị đóng đinh vào quan tài. Tên Hòa Yến hiện tại là một nam tử, hơn nữa tuổi tác xem ra cũng còn rất trẻ, chẳng thể nào khớp với người kia.
Nhưng mà…
Nhưng mà…
Ánh mắt của thiếu niên tên Hòa Yến ấy khi nhìn hắn, giờ nhớ lại vẫn khiến sống lưng Hứa Chi Hằng lạnh toát.
Sự lạnh lùng, căm hận, mỉa mai, và rồi trong một khoảnh khắc, biến thành một nụ cười thấu rõ mọi chuyện.
Đáng sợ nhất là, nàng ta lại thốt ra chính xác câu nói đó.
Lần đầu tiên hắn gặp Hòa Yến, hay nói đúng hơn, lần đầu tiên hắn gặp Hòa Yến với danh xưng thật sự, cô nương đó mặc chiếc váy thướt tha, vẻ mặt có chút ngượng ngùng, rụt rè cất tiếng: “Ta họ Hòa, tên Yến. Hòa trong hòa miêu, Yến trong hà thanh hải yến.”
Hứa Chi Hằng nhắm nghiền mắt lại.
Trên đời này làm gì có chuyện trùng hợp đến thế?
Sự trùng hợp quái quỷ đó, cớ sao lại rơi trúng ngay trước mặt hắn? Quả thực là…
Vẻ mặt hoảng loạn, đứng ngồi không yên của hắn đã lọt thỏm vào tầm mắt Hòa Yến đang đứng cách đó không xa, trong lòng nàng nở nụ cười nhạt nhẽo.
Vương Bá từng nói đi đêm lắm có ngày gặp ma. Trước kia nàng chỉ nghĩ kẻ này quá đỗi hèn nhát, nhưng giờ ngẫm lại, lời đó quả thật không sai. Giống như hai cha con Tôn Lăng ở thành Lương Châu, tội ác chất cao như núi, nữ tử chết dưới tay chúng nhiều vô kể, vậy mà chúng cũng sợ ma quỷ báo oán, phải lấp đầy viện bằng tượng phật và bùa chú.
Lâm Song Hạc quan hệ rộng, đi đến đâu cũng không tránh khỏi những cuộc hàn huyên xã giao. Hòa Yến luôn theo sát bên cạnh hắn, lặng lẽ ghi nhớ từng khuôn mặt và chức vụ của những người này.
Ghi nhớ xem họ ở đâu, đang đảm nhiệm chức vụ gì. Khi triều đình cũng là một chiến trường, bậc làm tướng sẽ không bao giờ xuất chinh mà không có sự chuẩn bị.
Đúng lúc đó, một giọng nói sang sảng vang lên: “Phi Hồng tướng quân đến rồi! Phi Hồng tướng quân đến rồi!”
Đám quan viên đang có mặt lập tức im bặt, đồng loạt hướng mắt ra ngoài cửa. Phải nói rằng hai vị danh tướng lẫy lừng của Đại Ngụy, Phi Hồng và Phong Vân, đi đến đâu cũng là tâm điểm của sự chú ý. Hôm nay Tiêu Giác không đến được, thì ánh hào quang đương nhiên dồn hết vào Hòa Như Phi.
Yến Hạc đứng một bên “xì” một tiếng khinh miệt, bĩu môi nói: “Làm như hoàng thượng giá lâm không bằng, có cần phải phô trương thanh thế thế không?”
Hạ Thừa Tú nhẹ nhàng kéo tay áo phu quân, Yến Hạc mới chịu thôi không càm ràm nữa.
Hòa Yến cũng theo ánh nhìn của đám đông, ngoái đầu ra phía cửa.
Chỉ thấy dưới sự dẫn đường của cung nhân, một nam nhân oai vệ bước vào. Nam nhân này khoác trên mình quan phục võ tướng, dung mạo cũng thuộc hàng tuấn kiệt, toát lên sự mạnh mẽ, bạo dạn đặc trưng của người lính. Có người tiến tới chào hỏi, hắn ta chỉ khẽ gật đầu đáp lại. Nhìn bề ngoài có vẻ dễ gần, thân thiện, nhưng thực chất lại duy trì một khoảng cách xa lạ rất vừa phải.
Chính sự xa lạ đó lại càng khiến “Phi Hồng tướng quân” trở nên bí ẩn hơn trong mắt người khác.
“Chậc.” Hòa Yến nghe tiếng Lâm Song Hạc cất lên bên cạnh, “Thằng nhóc này hồi thiếu niên cũng dễ thương lắm, sao lớn lên lại chướng mắt thế nhỉ? Cái điệu bộ này có khác gì mấy lão già cáo già lặn ngụp chốn quan trường bao năm không?” Hắn lại hạ giọng nói thêm một câu, “Quan trường đúng là chốn tạp nham… may mà ta không làm quan.”
Đây là lần đầu tiên Hòa Yến được tận mắt nhìn thấy bộ dạng của Hòa Như Phi khi đối mặt với đám đồng liêu trên triều. Mạo danh Phi Hồng tướng quân, hắn ta sống như cá gặp nước, chẳng có chút gánh nặng nào, cứ làm như từ đầu đến cuối hắn ta chính là Phi Hồng tướng quân bằng xương bằng thịt vậy.
Hòa Yến cảm thấy buồn nôn.
Có lẽ vì ánh mắt của nàng quá đỗi chăm chú, Hòa Như Phi dường như cũng cảm nhận được, bèn đảo mắt nhìn về phía nàng. Ngay lúc hai ánh mắt sắp sửa chạm nhau, Hòa Yến nhanh chóng ngoảnh mặt đi, vờ như đang trò chuyện với Lâm Song Hạc. Bởi thế, Hòa Như Phi chỉ nhìn thấy một thiếu niên xa lạ đang đứng cạnh Lâm Song Hạc. Chắc chỉ là do ảo giác chăng? Hắn không bận tâm thêm, tìm đến mấy vị đồng liêu thân thiết ngồi chung bàn.
Đám đồng liêu thân thiết của hắn, hiển nhiên đều là những người quen biết sau khi hắn “cởi bỏ mặt nạ”. Những người này trước đây vốn chẳng có chút liên hệ nào với hắn. Còn về Hứa Chi Hằng, trước mặt bàn dân thiên hạ hai người họ tỏ ra không mấy thân thiết. Người đời đều biết Hòa Như Phi vô cùng yêu thương muội muội Hòa Tâm Ảnh, nhưng đối với người muội phu này, tình cảm lại chỉ dừng lại ở mức “quân tử chi giao”. Âu cũng hợp lý, một văn quan, một võ tướng, dẫu có muốn thân cận cũng chẳng tìm đâu ra tiếng nói chung.
Nhưng Hòa Yến thì thừa biết sự thật không phải vậy.
Chẳng qua là những kẻ có tật giật mình, sợ bị nắm thóp nên mới cố tình diễn kịch để che mắt thiên hạ mà thôi. Xem ra bọn chúng rất sợ bí mật đó bại lộ, bọn chúng càng sợ, Hòa Yến càng thêm đắc ý.
Lâm Song Hạc lên tiếng: “Chúng ta cũng tìm chỗ ngồi đi.”
Nam khách và nữ khách phải ngồi tách biệt. Tuy nhiên, cung yến lần này nữ khách tham dự cũng rất thưa thớt. Ngoại trừ vài vị phu nhân vốn được thái hậu ân sủng dẫn theo tiểu thư nhà mình đến dự, thì chẳng còn ai khác.
Chẳng biết qua bao lâu, chợt có nội thị từ ngoài bước vào lớn tiếng truyền tin: Văn Tuyên Đế giá lâm.

