Trùng Sinh Chi Nữ Tướng Tinh – Chương 178
Nơi mũi kiếm chỉ về
Căn phòng lặng im trong giây lát rồi giọng nói đầy giận dữ của Lý Khuông vang lên: “Ai cho phép ngươi vào đây?”
Hòa Yến ngẩng đầu, trừng mắt nhìn hắn, cố nén giọng nói đang run rẩy: “Ngươi giết nàng ấy.”
“Đây là chuyện nhà ta, liên quan gì đến ngươi?” Lý Khuông dường như rất không muốn nhìn thấy Hòa Yến, “Cút ra ngoài!”
Những binh lính xung quanh cũng có kẻ lộ vẻ không nỡ, người thì né tránh ánh mắt Hòa Yến, kẻ thì cúi đầu im lặng, chẳng ai lên tiếng.
“Vì sao ta phải cút ra ngoài?” Hòa Yến lạnh lùng nói: “Cho dù Ỷ La cô nương là chuyện nhà của ngươi, thì những nữ nhân này là ta cứu về từ tay người Ô Thác. Chuyện này không phải chuyện nhà ngươi chứ, Lý đại nhân?” Nàng đột ngột cao giọng, “Ngươi cũng định giết hết tất cả bọn họ sao?”
Những nữ tử trên mặt đất nghe vậy, có một số bắt đầu thút thít khóc.
Triệu Thế Minh nghe tin vội vã chạy đến, cuối cùng cũng theo Vương Bá và mọi người xông vào trong. Chợt trông thấy trong phòng có một cái xác nằm sóng soài, hắn giật mình kinh hãi, run rẩy hỏi: “Đây là… đây là chuyện gì? Xảy ra chuyện gì vậy? Người này là ai?”
Hòa Yến bước lên một bước, Lý Khuông giận dữ quát: “Ngươi đừng đụng vào nàng ấy!” Nhưng khoảnh khắc sau, tấm vải trắng đã bị vén lên.
Nữ tử nằm trên mặt đất, vết máu từ ngực lan ra nhuộm đỏ cả y phục. Nàng nằm đó, thần sắc bình thản, đẹp như một đóa hoa kiều diễm. Mấy canh giờ trước nàng ta còn tươi cười cho Hòa Yến xem vòng hoa vừa kết, còn kể cho người khác nghe những ước mong về tương lai. Giờ đây đã không còn biết khóc, không còn biết cười, chỉ còn một cái xác lạnh lẽo mà thôi.
“Ỷ La?” Triệu Thế Minh kinh hãi, “Sao Ỷ La lại…? Có phải người Ô Thác trà trộn vào không? Lý đại nhân? Rốt cuộc chuyện gì đã xảy ra?”
Nếu thực sự có người Ô Thác trà trộn vào, Lý Khuông sao có thể bình tĩnh như thế, e rằng cả thành Nhuận Đô đã loạn thành một mớ từ lâu rồi. Chỉ là… cảnh tượng trước mắt, lại giải thích thế nào đây?
Lý Khuông trừng trừng nhìn Hòa Yến, Hòa Yến không hề lay động, nhìn thẳng hắn từng chữ từng chữ nói: “Chuyện này phải hỏi Lý đại nhân thôi. Ta thấy Lý đại nhân đang muốn noi gương Trương Tuần triều trước đấy!”
Lời này vừa thốt ra, Triệu Thế Minh hít một hơi lạnh.
Trong nhóm Vương Bá và Thạch Đầu, chỉ có Giang Giao từng đọc sách, mấy người còn lại vẫn chưa hiểu Hòa Yến nói gì, duy chỉ Giang Giao sắc mặt hơi biến.
“Trương Tuần triều trước giữ thành Tuy Dương, trong thành hết lương, giết thiếp để khao quân sĩ. Lý đại nhân đang làm gì vậy? Ngươi muốn làm Trương Tuần của Đại Ngụy, nhưng hiện tại thành Nhuận Đô vẫn còn đường sống khác, cớ gì phải đến mức này!”
“Ngươi biết cái gì!” Lý Khuông không nhịn được mắng: “Chẳng qua chỉ là một nữ nhân mà thôi! Nếu có thể cứu được bách tính cả thành, mạng ta cũng chết không tiếc, huống chi chỉ là một nữ nhân, chết vì thành Nhuận Đô, tuyệt không đáng tiếc!”
Hòa Yến nhìn hắn. Lý Khuông từng cùng nàng kề vai sát cánh chống giặc, đồng sinh cộng tử. Nàng và Lý Khuông tuy không thể gọi là tri kỷ, nhưng cũng tính là cố giao. Hòa Yến chưa bao giờ nghi ngờ phẩm cách của Lý Khuông, với tư cách một tướng lĩnh võ phu, hắn chính trực, dũng cảm, trung thành. Nhưng chính một anh hùng trong mắt thế nhân như vậy, “nữ nhân” trong mắt hắn cũng chẳng qua chỉ như mèo chó, như súc vật, như tài vật – một thứ vật hy sinh. Tiểu thiếp sủng ái nhất, chớp mắt liền có thể lấy “đại nghĩa” làm cớ mà chém giết, biến thành thức ăn lấp đầy bụng đói.
Đây chính là điều còn đáng sợ hơn cả đổi con cho nhau mà ăn.
Nàng đã nghĩ đến khả năng sẽ có cảnh tượng này, nhưng đó rốt cuộc là chuyện triều trước, hiện giờ vẫn chưa đến bước đường cùng như vậy, mà Lý Khuông cũng không phải Trương Tuần. Hòa Yến vẫn còn ôm chút hy vọng may mắn, tự nhủ có lẽ mình đã nghĩ nhân tính quá đỗi đáng sợ, thế nhưng… chẳng có gì ngăn cản được.
Lý Khuông vẫn đưa ra lựa chọn y hệt như vậy.
Năm đó ở Hiền Xương quán, khi đọc “Trung Nghĩa Truyện” đến đoạn này, Trương Tuần thất thủ Tuy Dương, quân địch không thể phá thành, bèn đóng trại bên ngoài chờ binh mã trong thành chết đói. Lương thực trong thành cạn kiệt, Trương Tuần giết ái thiếp ép quan binh ăn, sau đó lại có người giết nô bộc làm quân lương.
“Nữ tử trong thành đã hết, lại tới lượt nam giới già trẻ thay thế, số người bị ăn lên tới hai ba vạn.”
Trên học đường, không một thiếu niên nào lên tiếng, bầu không khí yên lặng. Tiên sinh vẫn đọc tiếp: “Trước trận chiến, trong thành Tuy Dương có bốn vạn người, khi cửa thành mở, người sống sót chỉ còn bốn trăm.”
Đều là thiếu niên mười mấy tuổi, lại đều xuất thân từ gia đình phú quý quan lại, chưa từng nghe chuyện thảm thiết đến như vậy. Người ăn thịt người đã đủ kinh hoàng, nếu thêm chiến tranh vào, càng khiến người ta xót xa.
Tiên sinh hỏi: “Các trò cho rằng, việc Trương Tuần làm là đúng hay sai?”
Các thiếu niên tranh nhau phát biểu, mỗi người trình bày ý kiến, đến cuối cùng, vẫn cho rằng trong tình cảnh lúc đó, việc Trương Tuần làm là điều không thể trách được.
Tiên sinh nói: “Giết người là trái với luân thường. Nhưng đó không phải bản ý của Trương Tuần. Có câu rằng: Tội lúc nguy cấp thì nhẹ, công phục hưng thì nặng. Ăn thịt người là lỗi nhỏ, giữ thành là công lớn.”
Các thiếu niên gật đầu đồng ý. Đều cho rằng tuy thảm thiết, nhưng chính việc này mới thể hiện sự trung trực của Trương Tuần. Dù sao thiếp thất là “việc nhà,” giữ thành là “việc nước.” Hy sinh thiếp thất để giữ nước, Trương Tuần là trung thần.
Hòa Yến lúc đó không nghĩ như vậy. Nàng ngồi trên học đường, không mở miệng, cũng không phụ họa theo lời các thiếu niên, chỉ cau mày, thần sắc ngưng trọng.
Tiên sinh nhìn ra sự không đồng tình của nàng, mỉm cười gọi nàng đứng dậy, hỏi: “Hòa Như Phi, trò có ý kiến khác chăng?”
Lúc đó nàng ở Hiền Xương Quán vẫn là kẻ ngốc thi lần nào cũng đội sổ, bị gọi tên còn hơi bất an. Nhưng trong lòng rốt cuộc phẫn uất khó nguôi, cuối cùng lấy hết dũng khí nói: “Người đời đều nói Trương Tuần là trung thần nghĩa sĩ, quả thực không sai, nhưng những người bị ăn thịt kia há chẳng vô tội sao? Ta có thể hiểu được sự lựa chọn của ông ấy, nhưng nếu đổi là ta… ta tuyệt đối không làm như vậy.”
“Ồ? Vậy trò sẽ làm thế nào?” Tiên sinh cười hỏi.
“Ta sẽ dẫn tàn binh còn lại sống chết một trận với phản quân ngoài thành.” Thiếu niên đứng trên học đường, ánh nắng xuyên qua cửa sổ, rơi trên mặt nàng, phủ lên gương mặt thanh tú còn chút non nớt một tầng sắc thái kiên nghị. “Người cầm kiếm trong tay, càng nên hiểu rõ mũi kiếm chỉ về đâu, là hướng về kẻ thù trước mặt, hay hướng về kẻ yếu sau lưng.”
“Ta tuyệt không rút kiếm hướng về kẻ yếu.”
Học đường im lặng giây lát, rồi vang lên tiếng cười ồ của các thiếu niên.
“Kẻ yếu? Kẻ yếu nào? Hắn chính là kẻ yếu!”
“Kiếm thuật của Hòa huynh kém đến vậy mà cũng dám nói cầm kiếm? Chắc đang mơ ngủ.”
“Nói hay lắm, nhưng sao có thể chứ, đao ngựa kém thế này mà cũng được đi thủ thành thì tòa thành đó chắc chẳng cần thủ nữa đâu. Ha ha ha ha.”
Hòa Yến bị tiếng cười ồ bao vây, mặt đỏ bừng, mím môi tự nghĩ, ba mươi năm hà đông, ba mươi năm hà tây, biết đâu có ngày nàng sẽ là vị tướng tung hoành sa trường. Đến lúc đó, nàng nhất định sẽ bảo vệ những người mình muốn bảo vệ. Tuyệt đối không để bách tính tay không tấc sắt trở thành quân lương. Nàng đã làm thì phải làm một vị tướng quân dũng cảm nhất.
Tiên sinh trấn an những thiếu niên đang cười nhạo nàng, nhìn Hòa Yến, đáy mắt đầy vẻ vui mừng: “Trò có thể đứng ở lập trường của bách tính mà suy nghĩ, chứng tỏ trò có tấm lòng thương xót kẻ yếu, điều này rất tốt.”
Hòa Yến trong lòng thầm thở dài, không phải nàng có lòng thương xót kẻ yếu. Chỉ vì những thiếu niên cười ồ trên giảng đường kia đều là nam tử, tự nhiên mà nhiên đặt mình vào vị trí của “Trương Tuần”. Còn nàng là nữ tử, nên cũng tự nhiên mà nhiên đứng ở lập trường của “ái thiếp”.
Đứng ở lập trường “Trương Tuần”, hành động này rất cao nghĩa. Đứng ở lập trường “ái thiếp”, đây chẳng qua chỉ là một kiếp nạn vô vọng.
Nỗi bi hoan giữa người với người trên đời không phải lúc nào cũng tương thông. Chẳng qua là ở vị trí nào thì đưa ra lựa chọn ấy mà thôi.
Giống như lúc này.
Hòa Yến nói: “Ngài là trung thần, nhưng nàng ấy thì có tội gì?”
“Ngươi không cần nói nhiều với ta,” Lý Khuông lạnh lùng đáp, “Ỷ La là thiếp thất của ta, tức là người của ta. Ta xử trí người của ta thế nào là việc của ta. Còn những nữ tử này… ngươi hỏi họ xem, có phải tự nguyện không? Ta đâu có ép buộc họ.”
Hòa Yến nhìn về phía những nữ tử ngồi trên mặt đất. Một nữ tử mắt đỏ hoe, quỳ xuống khấu đầu trước Hòa Yến, nhẹ giọng nói: “Đa tạ đại nhân thay chúng tôi lo liệu, chỉ là… chúng tôi đã bị người Ô Thác làm nhục, thân thể sớm đã không còn trong sạch, không thể về nhà, cũng không còn mặt mũi sống ở trên đời. Giờ còn có thể dùng thân xác này đổi lấy một tuyến sinh cơ cho Nhuận Đô cũng là phúc khí của chúng tôi. Biết đâu chút công đức này còn có thể rửa sạch bùn lầm trên người, kiếp sau tích thêm phúc khí.”
“Công đức cái rắm!” Không đợi nữ tử nói hết, Hòa Yến đã cắt ngang lời.
Mấy người Vương Bá kinh ngạc nhìn sang Hòa Yến. Bấy lâu nay Hòa Yến chung đụng với bọn họ tính tình luôn ôn hòa bậc nhất, dù năm xưa Vương Bá khiêu khích đến thế cũng chẳng thấy nàng nói nửa chữ thô tục. Giờ đến cả lời chửi thề cũng thốt ra, có thể thấy nàng đang giận dữ đến mức nào.
“Cái gì gọi là thân thể không trong sạch, cái gì gọi là không còn mặt mũi sống ở trên đời?” Hòa Yến giận dữ quát, “Đây là lỗi của các người sao?” Nàng nhìn sang Lý Khuông, nhìn sang những binh sĩ cúi đầu trong phòng, “Đây là lỗi của họ sao!”
“Nếu các người cho rằng đây là làm công đức thì lầm to rồi! Lý đại nhân,” nàng quay đầu nhìn Lý Khuông, “ngươi là thành tổng binh, ta nói cho ngươi biết, những nữ tử này bị người Ô Thác bắt giữ là vì bọn Ô Thác hung tàn vô đạo, là vì ngươi không có bản lĩnh bảo vệ họ. Họ có tội gì chứ? Ta chưa bao giờ thấy người bị hại có lỗi mà kẻ thủ ác lại nhởn nhơ thanh thản! Các ngươi như thế chính hợp ý bọn Ô Thác. Trong mắt chúng, người Đại Ngụy đều là những kẻ ngu ngốc, chúng cứ việc làm ác, tự nhiên sẽ có những người vô tội đứng ra gánh chịu những tội lỗi vô cớ cho chúng!”
“Trên đời sao lại có chuyện buồn cười đến vậy? Nếu bị người Ô Thác chạm vào thì không trong sạch, vậy thì ngay từ bước chân đầu tiên chúng đặt lên mảnh đất Đại Ngụy, chúng ta cũng chẳng cần kháng cự làm gì nữa. Đất đai Đại Ngụy cũng không sạch sẽ rồi, đem tặng hết cho chúng đi, còn đánh đấm cái gì nữa!”
“Ngươi! Cẩn trọng lời nói!” Lý Khuông nén giận quát.
“Ta không đấy!” Hòa Yến trừng mắt nhìn hắn,trong mắt như có một ngọn lửa bừng cháy muốn thiêu rụi mọi thứ xung quanh. “Ngươi là đàn ông, là tướng lĩnh của họ. Ngươi lại chĩa đao vào nữ tử và bách tính của mình! Như vậy là sao? Nếu hôm nay các ngươi xông ra ngoài cùng ta giết vài tên Ô Thác, uống máu ăn thịt chúng, ta còn kính các ngươi là hảo hán. hưng trên đời không có cái lý lẽ nào nam nhân đánh không thắng trận lại bắt những nữ nhân yếu đuối vô tội đi hy sinh! Đó gọi là hèn nhát!”
“Ta đã nói rồi, họ tự nguyện.”
“Họ thực sự tự nguyện sao?” ánh mắt Hòa Yến sắc bén. “Được, để ta hỏi các người.” Nàng nhìn về phía những nữ tử đang ngồi trên đất. “Các ngươi vì sao lại cho rằng mình không sống nổi nữa, có phải vì người khác nói gì đó không? Nếu người khác nói gì, các ngươi cứ mắng trả lại, ai miệng vụng về thì dùng nắm đấm. Đây là lỗi của các ngươi sao? Nếu còn ai lấy chuyện này ra sỉ nhục các ngươi, thì kẻ đó mới chính là loại người hèn hạ vô sỉ nhất, không cần phải nể nang gì nữa. Mạng các ngươi là ta cứu, các người cứ thế tùy tiện từ bỏ, vậy coi ta ra gì?”
Thần sắc nàng nhiếp người, những nữ nhân kia nhất thời không dám lên tiếng. Qua một lúc, trong đó có một cô nương trẻ tuổi bật khóc “oa” lên một tiếng, nức nở nói: “Ta không muốn chết, ta sợ lắm…”
Sắt mặt Lý Khuông xanh mét.
“Không muốn chết thì có ta ở đây, không ai được ép các ngươi chết cả.”
“Ngươi dám nói vậy ư?” Lý Khuông nói: “Đây không phải Lương Châu Vệ!”
Thần sắc Hòa Yến trầm tĩnh lại, nàng bước lên một bước, che chắn những nữ tử kia sau lưng. “Lý đại nhân, Ỷ La là thiếp thất của ngài, theo ngài bao nhiêu năm, không phải một món hàng, một vật phẩm có thể tùy tay đưa đi. Nàng ấy là người của ngài không sai, nhưng trước đó, nàng ấy trước hết là một con người.”
“Hôm nay ngài không được động đến những nữ tử này, nếu ngài muốn động…” Hòa Yến từ từ rút thanh trường kiếm vừa cướp được từ tay binh sĩ ngoài cửa, “…thì phải bước qua kiếm của ta trước.”
“Ngươi tưởng ta không dám sao?” Lý Khuông nổi giận đùng đùng, rút phắt thanh trường kiếm bên hông, phó tướng và binh sĩ xung quanh thấy vậy cũng đều rút kiếm, chĩa mũi kiếm về phía Hòa Yến.
Bầu không khí trong phòng giương cung bạt kiếm.
Triệu Thế Minh vội vã nói: “Các ngươi làm gì vậy? Người nhà sao lại chĩa kiếm vào người nhà? Việc cấp bách nhất của chúng ta là đánh bọn Ô Thác. Lý đại nhân, tôi thấy tiểu Hòa đại nhân nói có lý, ngài không thể… không thể ăn thịt người! Ngài làm vậy, bách tính bên ngoài thấy thế tranh nhau bắt chước thì thành Nhuận Đô sẽ ra sao? Dù có giữ được thành, ngài muốn thiên hạ chỉ vào xương sống chúng ta mà mắng chửi sao?”
Bản thân ông ta cũng có tư tâm. Ỷ La là ái thiếp được sủng ái của Lý Khuông, Triệu Thế Minh cũng phải thừa nhận Ỷ La xinh đẹp lanh lợi, rất đáng yêu, nếu là ông ta chắc chắn không nỡ ra tay. Vậy mà Lý Khuông nói giết là giết, bọn võ phu này… haiz! Đến cuối cùng, những người làm quan như họ chẳng phải đều phải làm gương sao? Ông ta chừng này tuổi rồi, cả đời đến con gà còn chưa giết, nếu bắt ông ta tiễn gia quyến của mình đi chết, Triệu Thế Minh thà tự mình đi chết còn hơn. Vì vậy liền lập tức đứng về phía Hòa Yến.
Lý Khuông không thèm để ý Triệu Thế Minh, một tên huyện lệnh đến cầm đao còn không biết, hắn chẳng coi ra gì. Điều khiến hắn tức giận là Hòa Yến.
Không ai ngờ Hòa Yến lại liều lĩnh xông vào như vậy, chẳng nói chẳng rằng đã buông một tràng chỉ trích. Ỷ La theo hắn bao nhiêu năm, lẽ nào hắn không đau lòng? Lẽ nào khi ra tay hắn không hề do dự? Chỉ là chiến sự đã đến nước này, nếu Nhuận Đô không giữ được thì ai cũng phải chết. Giết Ỷ La trước mặt các phó tướng cũng là để họ hiểu rõ quyết tâm tử thủ Nhuận Đô của hắn.
Trong số các phó tướng này, ngày thường vẫn hay gặp mặt Ỷ La, một cô nương sống sờ sờ bị giết ngay trước mắt, ai nấy đều không nỡ. Cũng không ít người cầu xin tha mạng cho Ỷ La, nhưng Lý Khuông cho rằng năm xưa Trương Tuần làm được thì nay hắn cũng làm được. Cho dù gánh chịu tiếng chửi rủa của thiên hạ cũng chẳng có gì đáng kể, công tội tự có hậu nhân phán xét.
Thế nhưng tên Vũ An Lang Hòa Yến này cứ thế xông vào, đứng trước mặt hắn che chở cho đám nữ nhân kia, ánh mắt sáng rỡ khiến hắn trong khoảnh khắc có chút xấu hổ không biết giấu mặt vào đâu.
Hắn bỗng nhiên nghĩ đến Hòa Như Phi.
Vị Phi Hồng tướng quân khi còn là phó tướng ấy, mỗi trận đánh đều dốc hết sức cứu những nữ nhân bị quân địch bắt giữ. Thực ra những nữ nahan ấy khi trở về nhà, chờ đợi họ cũng chẳng phải kết cục tốt đẹp gì, nhưng Hòa Như Phi luôn kiên nhẫn an ủi, động viên họ. Lý Khuông chưa bao giờ thấy một nam nhân nào lại ân cần chu đáo đến vậy. Nhưng hắn nghĩ trên đời này ngây thơ như thế cũng chỉ có mỗi một Phi Hồng tướng quân.
Vậy mà hôm nay, trước mặt hắn lại xuất hiện thêm một người nữa.
Sắc mặt Lý Khuông lạnh lẽo: “Vũ An Lang, ngươi định động thủ với ta sao?”
“Thật xin lỗi, nhưng ta không thể để họ chết ở đây.”
Một người phụ nữ bên cạnh vừa khóc vừa mở miệng, nhìn Hòa Yến: “Đại nhân, đừng vì chúng tôi mà phí sức, nếu mạng của chúng tôi có thể đổi lấy bình an cho Nhuận Đô, chúng tôi nguyện ý…”
“Bình an của Nhuận Đô không thể dựa vào các ngươi mà đổi lấy.” Hòa Yến lạnh giọng: “Sự bình an đổi bằng mạng nữ nhân chẳng khác gì cầu xin sự thương xót của quân địch.”
“Lý đại nhân, đây không phải tiền triều, ngươi cũng không phải Trương Tuần.”
Lý Khuông gần như sắp thẹn quá hóa giận. Hắn biết mỗi câu nói của thiếu niên trước mặt đều đúng, nhưng hắn không còn đường nào khác để đi.
“Chỉ dựa vào ngươi cũng muốn động thủ với ta?” Hắn lạnh lùng nói.
“Cái thá gì thế không biết,” Vương Bá “phì” một tiếng nhổ nước bọt, “Giết nữ nhân mà còn có lý à? Đám sơn phỉ chúng ta còn không giết phụ nữ, người già và trẻ nhỏ. Tục ngữ nói “đạo diệc hữu đạo” (trộm cũng có đạo), đám binh mã ăn lộc triều đình các người vậy mà lại làm ra chuyện không bằng súc sinh này? Đừng có lải nhải nữa, chúng ta, Lương Châu vệ số một hai ba bốn năm sáu bảy, chấp nhận lời khiêu chiến của các ngươi!”
Hắn nói như thể đang thách đấu trên đài ở diễn võ trường, khiến Lý Khuông tức đến mức mặt mày càng thêm khó coi.
Lúc này lại có người bước vào, chính là Sở Chiêu. Hắn nhìn Lý Khuông, trước tiên thi lễ, rồi mỉm cười nói: “Việc Lý đại nhân làm thật không ổn, bệ hạ vốn luôn thi hành “nhân chính”, nếu chuyện ăn thịt người trái ngược luân thường đạo lý này truyền đến tai bệ hạ, e rằng bệ hạ sẽ không vui.”
Hắn đây là muốn đứng về phía Hòa Yến rồi. Sở Chiêu đại diện cho Từ tướng, một bên là Lương Châu Vệ, một bên là Từ tướng, áp lực lớn thế nào có thể tưởng tượng được. Lý Khuông trong lòng vừa tức vừa bực, tên Hòa Yến này rốt cuộc là có lai lịch thế nào mà hết người này đến người khác đều muốn theo hắn như vậy?
Nhưng binh sĩ xung quanh đều đang nhìn hắn, hắn hạ quyết tâm, nghiến răng nói: “Ngươi không phải đối thủ của ta.”
Hòa Yến khẽ mỉm cười, hoành kiếm ngang trước người, “Lý đại nhân cứ thử xem.”
Kiếm phong lạnh lẽo, sát khí bỗng dâng, không khí trong phòng căng như thuốc súng sắp nổ. Đúng lúc ấy, bỗng nhiên bên ngoài lại vang lên tiếng binh sĩ: “Đại nhân! Đại nhân!”
Lý Khuông đang đầy bụng tức giận, tiến không được mà lui cũng chẳng xong, nghe tiếng gọi liền quát: “Gào cái gì mà gào!”
Khoảnh khắc sau, cánh cửa phòng lại bị mở ra, có người bước vào, giọng nói bình tĩnh.
“Trước khi Lý đại nhân giáo huấn người của Lương Châu Vệ, dường như nên hỏi qua ta trước đã.”
Giọng nói này… Hòa Yến giật mình, vội vàng quay đầu lại.
Chỉ thấy một nam tử trẻ tuổi mặc thâm y tay hẹp, khoác giáp sẫm màu bước tới, đứng chắn trước mặt nàng. Mới hơn một tháng chưa gặp, thế mà lần gặp trước dường như đã cách xa cả vạn năm. Dung mạo anh tuấn, thân hình tựa liễu xuân thanh tú, thần sắc vẫn lãnh đạm như mọi khi.
“Tiêu… Tiêu đô đốc!” Đáy mắt Lý Khuông không giấu nổi kinh ngạc.
Hắn làm sao cũng không ngờ được, lại có thể gặp Hữu Quân Đô Đốc Tiêu Giác ở nơi này.
Tiêu Giác không nhìn Hòa Yến, cũng không nhìn Lý Khuông, ánh mắt chỉ lướt nhẹ qua những người nữ tử đang khóc, nhàn nhạt nói: “Kẻ tay cầm kiếm, càng nên hiểu rõ mũi kiếm chỉ về đâu, là hướng về phía kẻ địch trước mặt, hay hướng về phía kẻ yếu sau lưng.”
“Ngươi không nên chỉ kiếm về phía kẻ yếu.”
Hòa Yến bất chợt ngước mắt nhìn hắn.

