Nữ Tướng Tinh

Trùng Sinh Chi Nữ Tướng Tinh – Chương 152

SINH CƠ TRONG TỬ CỤC

Việc dân chúng trong thành Tế Dương sơ tán và việc Tiêu Giác tiếp quản quân thành Tế Dương gần như diễn ra đồng thời.

Lệnh được đích thân vương nữ ban ra, dân chúng tất nhiên không không tuân theo. Dẫu có bao nhiêu nghi hoặc, bất mãn, nhưng khi nghe tin trong thành hỗn loạn, ai ai cũng vì an toàn của gia đình mà tạm thời rời đi. Chỉ có những người già yếu bệnh tật không thể đi xa là ở lại, họ vì nhiều lý do không thể di chuyển, cũng không muốn chịu cảnh vất vả dọc đường nên thà chết tại quê hương còn hơn.

Khó xử nhất chính là một số thế gia đại tộc trong thành Tế Dương, bọn họ vốn không hài lòng với Mục Hồng Cẩm trong những năm gần đây nên âm thầm sinh lòng phản loạn. Nhưng Mục Hồng Cẩm luôn hành sự mạnh mẽ quyết đoán, tuy là nữ nhi nhưng vẫn luôn thẳng tay trấn áp mọi tiếng phản đối. Tuy nhiên lần này nguy cơ giáng xuống thành Tế Dương quá đột ngột, Mục Hồng Cẩm rốt cuộc cũng không thể phân thân thế nên đã khiến các đại gia tộc kia bắt đầu ngo ngoe rục rịch, định nhân cơ hội này động tay động chân.

Mục Hồng Cẩm không thể rời khỏi thành Tế Dương. Một khi bà rời đi thì không chỉ là tạo cơ hội cho những kẻ chống đối ngấm ngầm, mà còn đồng nghĩa với việc bà từ bỏ tòa thành này, từ bỏ cả dân chúng trong thành. Là vương nữ của Tế Dương, đã hưởng sự yêu mến và kính trọng của bá tánh thì lúc này càng phải gánh vác trách nhiệm.

Một chiếc xe ngựa cải trang giản dị lặng lẽ rời khỏi vương phủ.

Mục Hồng Cẩm cải trang thành thị nữ đứng nơi cửa phủ, nửa người nấp sau cột đá to, dõi mắt theo hướng Mục Tiểu Lâu rời đi.

Mục Tiểu Lâu vẫn chưa hay biết về nguy cơ của thành Tế Dương, ngây thơ tưởng rằng chuyến đi này chỉ là thay bà tham dự sinh thần của phiên vương. Lúc đi còn rất vui vẻ, nói sẽ mang quà về cho Mục Hồng Cẩm. Lúc về hẳn đã là mùa hè, tiểu cô nương còn muốn Mục Hồng Cẩm làm chè sữa ngọt cho mình ăn.

Cho đến khi không còn thấy bóng dáng xe ngựa đâu nữa Mục Hồng Cẩm mới thu lại ánh mắt, quay người định bước vào phủ, nhưng vừa liếc mắt bà dường như thấy có một người mặc bạch y đứng phía đối diện, không khỏi dừng bước nhìn sang.

Là một nam tử, không nhìn rõ dung mạo, ẩn mình trong sân viện phía bên kia con phố, ánh nắng chiếu từ trên mái nhà xuống, tạo thành một mảng bóng râm lớn, hắn đứng trong đó, không thấy rõ mặt, chỉ thấy bên hông đeo một thanh trường kiếm, sau lưng mang theo một cây cầm.

Con phố rộng rãi, người qua kẻ lại tấp nập. Giữa dòng người ấy, hắn hơi ngẩng đầu, dường như đang nhìn bà xuyên qua đám đông, lại cũng giống như chẳng hề nhìn gì.

Một chiếc xe ngựa chở hàng từ từ chạy qua.

Khi Mục Hồng Cẩm một lần nữa ngẩng đầu lên nhìn lại thì chỉ còn ánh nắng chói chang làm hoa mắt, phía bên kia phố đã không còn bóng người, dường như tất cả chỉ là ảo giác của bà.

Bà đứng yên lặng trong giây lát, rồi xoay người rời đi.

Đêm xuống, ngọn đèn dầu trong thư phòng Thôi phủ vẫn còn sáng. Bốn góc đặt những chiếc đèn lồng lớn, chiếu sáng cả căn phòng. Thư phòng của Thôi Việt Chi, nói là thư phòng chẳng bằng gọi là kho binh khí thì đúng hơn, lạnh lẽo vuông vức, ngoài vài quyển trục chất đống lộn xộn trên bàn và một giá sách gỗ đen, thực chẳng có chút gì gọi là thanh nhã.

Nhưng dù sao vốn dĩ ông cũng không phải người yêu sách.

Trên tường treo một tấm bản đồ lớn chiếm nửa bức tường. Giữa bản đồ là con sông, các xoáy nước và bãi đá ven sông đều được vẽ rất rõ ràng.

Trong phòng có hơn mười người, đều là các võ tướng như Thôi Việt Chi. Đây đều là đồng liêu và thuộc hạ của ông, nếu quân Ô Thác tiến vào thành, những người này sẽ trở thành phó tướng của quân Tế Dương, phối hợp với Tiêu Giác hành động.

Hòa Yến và Tiêu Giác ngồi một bên, Phi Nô và Xích Ô thì khoanh tay đứng ở phía sau. Thôi Việt Chi cầm bút than, khoanh một vòng tròn rõ ràng trên bản đồ.

“Chỉ có chỗ này là thích hợp nhất để đổ bộ,” Thôi Việt Chi chỉ vào chỗ vừa đánh dấu, “nếu quân địch đổ bộ từ đây, hai bên sẽ giao chiến tại chỗ này. Nơi này địa thế bằng phẳng, thích hợp cho quân Tế Dương bày trận, nhưng……” ông liếc mắt nhìn Tiêu Giác, hơi chột dạ, “chúng ta không đủ binh mã.”

Thành Tế Dương vốn không thể có nhiều binh mã, Văn Tuyên Đế sẽ không cho phép chuyện đó xảy ra. Năm xưa để giữ mình, biết bao phiên vương đã giải tán quân đội, Mục Hồng Cẩm cũng thế, chỉ giữ lại chưa đến hai vạn quân, đó đã là ân điển rất lớn từ Văn Tuyên Đế.

Với hai vạn quân, nếu tạo phản thì chẳng đủ để nổi sóng gió, nhưng để đối đầu với hàng vạn quân Ô Thác tàn bạo thì lại càng thiếu tự tin. Thôi Việt Chi cũng hiểu điều này, khéo đến đâu mà không có gạo thì cũng không thể nấu thành cơm. Dù có danh tướng như Phong Vân tướng quân dụng binh như thần, nhưng không có quân lính trong tay thì lấy gì mà đánh? Dùng mặt để đánh sao?

“Không phải không đủ binh mã,” Tiêu Giác nhìn bản đồ, giọng trầm ổn, “mà là không đủ thuyền.”

“Thuyền?” Một thuộc hạ của Thôi Việt Chi nhìn về phía hắn, có phần nghi hoặc.

Cũng không trách bọn họ, thành Tế Dương mấy năm nay yên ổn thái bình, ngoại trừ Thôi Việt Chi và vài người lớn tuổi, e rằng mấy người trẻ hơn ở đây còn chưa từng thật sự đặt chân lên chiến trường.

Tiêu Giác đưa ngón tay khẽ gõ vào chén trà trước mặt, nói: “Ngươi nói đi.”

Hòa Yến: “Ta sao?”

Thôi Việt Chi cùng các thuộc hạ đồng loạt nhìn về phía Hòa Yến.

Lúc này Hòa Yến đã đổi lại trang phục nữ tử, chuyện nàng đánh bại Mộc Di ở võ trường hôm nay mọi người ngồi ở đây cũng đều có nghe qua. Nhưng một nữ thuộc hạ dù thân thủ có cao đến đâu thì nhiệm vụ cũng chỉ là bảo vệ chủ tử an toàn, nhiều lắm thì cũng chỉ là giết vài tên địch trên chiến trường.

Bày binh bố trận, phân tích chiến báo – những việc này vốn chẳng phải người thường có thể làm được. Huống hồ trong chuyện hành quân đánh giặc đám nam nhân trước nay vốn tự cho mình vượt trội hơn nữ nhân, thế nên hành động này của Tiêu Giác khiến nhiều người nảy sinh lòng bỡn cợt. Nghĩ rằng những lời đồn không hẳn là thật, thế nhân đều nói Phong Vân tướng quân lạnh lùng vô tình, không gần nữ sắc, thì ra đều là giả dối. Nay đã bị sắc đẹp làm cho váng đầu, dung túng cho nữ thuộc hạ “ thân thiết bất thường” này làm loạn.

Chỉ trong chốc lát, ánh mắt mọi người nhìn Tiêu Giác liền chẳng khác nào nhìn một vị hôn quân bị yêu phi mê hoặc khiến nước mất nhà tan.

Bao năm qua, Hòa Yến cũng đã không nhớ nỗi đã bắt gặp ánh mắt xem thường nữ tử của đám nam nhân bao nhiêu lần. Trong lòng sớm đã muốn dạy cho bọn họ một bài học, nàng nghĩ ngợi trong chốc lát, không từ chối mà đứng dậy, mỉm cười bước tới trước bản đồ.

Thôi Việt Chi lui về chỗ ngồi của mình, những người còn lại đều đổ dồn ánh mắt về phía Hòa Yến, nét mặt đều hiện rõ vẻ “chờ xem nàng ta nói nhăng nói cuội gì đây”.

Hòa Yến chẳng buồn liếc nhìn bản đồ, chỉ xoay người đối diện mọi người nói: “Mấy thứ này, không quan trọng.”

Mọi người đều không hiểu.

“Thủy chiến không cần chiến thuật gì cao siêu, thuyền lớn thắng thuyền nhỏ, pháo lớn thắng pháo nhỏ, nhiều thuyền thắng ít thuyền, nhiều pháo thắng ít pháo, chỉ vậy mà thôi.”

“Các người có thuyền nhỏ, pháo nhỏ, ít thuyền, ít pháo. Dù có nhìn bản đồ thế nào, đổ bộ ở đâu, bố trí trận địa ra sao cũng chẳng quan trọng. Đại Ngụy ngoài đội cấm quân hoàng gia thì cấm dùng hỏa pháo nên lúc này chúng ta chỉ nói riêng về thuyền, thì chỉ cần người Ô Thác có đủ thuyền bọn chúng nhất định sẽ thắng.”

“Muốn đánh trận lấy ít thắng nhiều, không có thuyền là không được.”

“Trên sông, bọn chúng nhiều thuyền, lên bờ bọn chúng nhiều người. Bản đồ này, vốn dĩ không phải dùng như vậy.”

Những người có mặt trong phòng tuy mấy năm nay không ra chiến trường nhưng cũng không phải kẻ ngốc. Hòa Yến có phải đang nói bừa hay không trong lòng họ tự biết rõ. Nàng một châm thấy máu, nói trúng điểm mấu chốt, khiến sự khinh thường trong lòng mọi người giảm đi không ít.

“Hòa cô nương,” Thôi Việt Chi nói, “Nhưng cô cũng biết, những năm gần đây bệ hạ cấm tư tàng nuôi quân, huống chi là thuyền chiến. Thuyền trên kênh chủ yếu dùng để vận chuyển hàng hóa, hoặc chở người đi xa. Thành Tế Dương căn bản không dám tự ý lập thủy quân, càng không cần nói đến hỏa pháo.”

Trong lòng Hòa Yến thở dài, dĩ nhiên nàng biết những điều này. Trước kia triều đình từng xảy ra loạn phiên vương, từ sau khi tiên đế lên ngôi thì càng chú trọng việc cắt giảm thế lực phiên vương. Hiện tại các phiên vương lớn thực chất cũng như quý tộc không có thực quyền ở kinh thành Sóc Kinh mà thôi.

“Tiêu Đô đốc,” một thuộc hạ của Thôi Việt Chi nhìn về phía Tiêu Giác, dè dặt hỏi, “Quân Ô Thác ước chừng có khoảng bao nhiêu?”

Tiêu Giác đáp: “Mười vạn, hoặc hơn.”

Mọi người đồng loạt hít một hơi lạnh.

Binh lực chênh lệch như thế khiến người ta dù muốn cũng khó mà nhen nhóm hy vọng.

“Dân chúng trong thành giờ đã được điện hạ sắp xếp rút lui, rời khỏi thành từ cửa sau,” một phó tướng giọng khô khốc nói, “Chúng ta… chỉ có thể cố gắng cầm cự thêm chút thời gian.”

Ý tứ trong lời, ai cũng hiểu – mọi người đều đã làm tốt chuẩn bị, sẵn sàng hy sinh. Dân trong thành và tiểu điện hạ là mồi lửa phải được bảo toàn, chuyện bọn họ có thể làm chỉ là tranh thủ thêm chút thời gian cho dân chúng, thành bị phá chỉ là chuyện sớm muộn.

Ánh mắt Tiêu Giác nhàn nhạt quét qua mọi người, hơi ngồi thẳng dậy, đang định mở miệng thì chợt nghe thấy một giọng nữ trong trẻo vang lên.

“Sĩ khí suy sụp thế này không phải chuyện tốt đâu. Mọi người phải biết là ở đây chúng ta còn có một danh tướng đấy. Các người biết danh tướng là gì không?”

Mọi người ngẩn ra.

“Trận nên thắng thì không thua, trận không thể thắng thì vẫn có cơ hội thắng – đó chính là danh tướng.” Hòa Yến nhướng mày, “Dù tình thế thoạt nhìn chắc chắn sẽ thua nhưng danh tướng vẫn có thể tìm ra điểm đột phá, chuyển bại thành thắng. Ở đây có danh tướng, lấy sức một người xoay chuyển càn khôn, nếu các người thế này, bảo người ta phải làm sao?”

Trong lòng nàng nghĩ, ở đây không chỉ có một danh tướng, mà là hai – hai đại danh tướng của Đại Ngụy đều có mặt. Nếu còn thua thì nói ra không cần làm người nữa.

Mọi người không rõ nội tình, chỉ nhìn về phía Tiêu Giác, trong lòng thầm nghĩ: Thuộc hạ của Tiêu Giác thật là không tiếc công tâng bốc hắn, đến ván cờ thối nát thế này mà vẫn tin hắn có thể xoay chuyển cục diện, ngày thường còn sùng bái hắn đến mức nào đây?

Thôi Việt Chi trầm mặc giây lát, hỏi Tiêu Giác: “Vậy thì, Tiêu Đô đốc, chúng ta nên làm thế nào để chuyển bại thành thắng?”

Thiên hạ không biết rằng năm xưa Tiêu Giác đã từng dùng thủy công lấy ít thắng nhiều, bởi đối với người ngoài, lúc ấy hắn dẫn theo mười vạn Nam Phủ Binh đại thắng ở thành Quắc. Nhưng khi đó là dùng nước đổ vào thành, là công thành chứ không phải thủ thành. Hơn nữa Tế Dương khác thành Quắc – Tế Dương là thủy thành, tuy cũng là thủy chiến nhưng thật ra khác nhau một trời một vực.

Tiêu Giác tựa người vào lưng ghế, ngón trỏ tay trái khẽ cong lên gõ nhẹ vào nắp tách trà, nhìn về phía Hòa Yến, đôi mắt đẹp như ngọc ẩn chứa vô vàn cảm xúc sâu kín, nói: “Ngươi nói tiếp đi.”

Hòa Yến hơi nhíu mày.

Hắn nói: “Ngươi từng giao thủ với người Ô Thác, hiểu rõ thủ đoạn của bọn chúng hơn những người khác.”

Thủ đoạn của người Ô Thác thô bạo và trực tiếp, điều này gắn liền với lối hành sự của bọn chúng. Bao năm ẩn mình trong bóng tối, thỉnh thoảng lại quấy nhiễu thử thăm dò, vừa tự phụ vừa tự ti. Lần này mưu đồ đã lâu, lại chọn thành Tế Dương làm chiến công đầu, tất nhiên muốn trận này đánh cho long trời lở đất, thanh thế rầm rộ.

Hòa Yến nói: “Nước khắc lửa, nước lửa không dung, chi bằng dùng hỏa công.”

Trong thư phòng nhất thời mọi người đều im lặng.

“Phiền Hòa cô nương nói rõ hơn một chút.” – Thôi Việt Chi lên tiếng.

Thái độ của Thôi Việt Chi với Hòa Yến mỗi lúc một cung kính hơn, cảm thấy cô nương này quả thực rất khác biệt với những nữ tử khác, cũng khác biệt với những thuộc hạ khác của Tiêu Giác. Ví như Phi Nô và Xích Ô cũng đều là người của Tiêu Giác nhưng họ chỉ làm theo mệnh lệnh, Tiêu Giác cũng chưa bao giờ để họ phát biểu ý kiến như bây giờ. Còn Hòa Yến tuy bề ngoài luôn tỏ vẻ cung kính với Tiêu Giác nhưng nhìn kỹ thì lại không giống quan hệ cấp trên – cấp dưới. Đại hán Thôi Việt Chi thô ráp không nhìn ra được yêu hay không yêu, nhưng ông cảm nhận được, Hòa Yến xem bản thân và Tiêu Giác là ngang hàng.

Nếu nàng là nam tử thì nhất định là sẽ là huynh đệ bằng hữu với Tiêu Giác chứ không phải chủ tớ.

“Thuyền mà người Ô Thác dùng có thể sẽ rất lớn. Ít nhất sẽ không giống như mấy chiếc thuyền nhỏ để vận chuyển hàng hóa hoặc chở người của quân thành Tế Dương. Nước Ô Thác nằm sâu trong đất liền, bốn bề không giáp biển, hẳn là không thành thạo đường thủy như người Tế Dương. Ta cho rằng, khả năng lớn nhất là bọn họ sẽ dùng thuyền lớn đi tới gần thành Tế Dương. Sau đó sẽ đổ bộ lên bờ từ vị trí vừa rồi Thôi Trung Kỵ đã chỉ ra,” nàng chỉ vào chỗ Thôi Việt Chi vừa đánh dấu, “nếu…… nếu khoảng cách giữa các thuyền của bọn chúng rất gần thì có thể dùng hỏa công. Khi lửa bốc lên thuyền nhỏ của Tế Dương có thể nhanh chóng rút lui còn thuyền lớn của Ô Thác thì không thể. Khi đó chúng ta có thể thừa cơ tiêu diệt chủ lực của chúng.”

Dùng hỏa công trên sông nước, biện pháp này trước nay chưa từng có ai thử. Mọi người nhất thời đều trầm mặc, nhưng lời nói của Hòa Yến lại như khai thông đầu óc của bọn họ, trong lòng đều ẩn ẩn kích động, thầm nghĩ kế sách này rất khả thi.

“Binh lực của Ô Thác hơn chúng ta rất nhiều, cũng biết Tế Dương đã nhiều năm thái bình, không phải đối thủ của bọn chúng, trong lòng chắc chắn rất kiêu căng. Mà kiêu binh thì nông cạn — đó là điểm yếu của chúng, đồng thời sẽ là điểm mạnh của chúng ta.”

Giọng nói của nàng ôn hòa nhưng đầy kiên định, rõ ràng mạch lạc. Mỗi lời, mỗi chữ như thể truyền cho người ta một niềm tin mãnh liệt. Những người vừa rồi còn cho rằng trận chiến này chắc chắn sẽ thua, hiện tại chỉ mới nghe mấy câu của nàng, lại cảm thấy…… có lẽ họ thực sự có thể tạo nên một trận chiến lấy ít thắng nhiều được ghi tạc vào sử sách, để đời sau kính phục.

Chỉ là……Thôi Việt Chi nghi hoặc nhìn Hòa Yến. Trong thời gian ngắn ngủi mà đã nghĩ ra được đối sách, tuy chưa hẳn là hoàn hảo nhưng lại độc đáo, đánh trúng mấu chốt quyết định thắng bại — đây là chuyện một nữ tử bình thường thật sự có thể làm được sao? Đừng nói là nữ tử, dù là nam nhân, là tổng binh từng chinh chiến nhiều năm cũng chưa chắc đã phản ứng được mau lẹ như thế. Bởi vì làm tướng không chỉ cần kinh nghiệm mà còn cần chút thiên phú và ánh mắt đặc biệt. Mà thoạt nhìn Hòa Yến trước mắt này mới bao nhiêu tuổi chứ? Nghe nói mới mười bảy…… một cô nương mười bảy tuổi, đã lợi hại đến thế rồi?

Nếu tất cả thuộc hạ của Tiêu Giác đều thế này thì chẳng phải Cửu Kỳ Doanh chính là nơi rồng hổ ẩn mình sao? Trong lòng Thôi Việt Chi dâng lên một tia lạnh lẽo mơ hồ.

“Ta chỉ nêu ra một giả thiết,” Hòa Yến nói, “còn thực hiện thế nào, có khả thi hay không, ta cũng không dám chắc.” Nàng biết mình đã nói hơi nhiều, liền ý thức chuyển giao lời nói lại cho Tiêu Giác, “Kế này có thể dùng hay không, vẫn phải xem quyết định của Đô đốc.”

Thực ra nàng vốn có thể không nói những điều này. Nhưng nghiêm túc đối đãi với mỗi trận chiến là trách nhiệm của một vị tướng. Huống hồ thành Tế Dương rất tốt, dân chúng cũng nhiệt tình chân chất, nàng không muốn để nơi đẹp như chốn đào nguyên này bị hủy dưới tay người Ô Thác. Thêm nữa nếu Ô Thác chiếm được Tế Dương tất sẽ tiến thẳng về phương bắc, tai họa sẽ giáng xuống toàn dân Đại Ngụy.

Nàng sẽ chiến đấu tới cùng.

Mọi người đều nhìn về phía Tiêu Giác. Tiêu Giác liếc nhìn Hòa Yến, đứng dậy, đi tới bên cạnh nàng.

Hòa Yến cúi đầu, tránh ánh mắt như có điều suy tư của hắn rồi quay lại chỗ ngồi.

Tiêu Giác nhặt lấy cây bút than mà Thôi Việt Chi vừa đặt xuống ban nãy, khoanh thêm một vòng mới tại vị trí Thôi Việt Chi vừa đánh dấu, làm một ký hiệu hoàn toàn khác.

Ký hiệu mới nằm phía trước ký hiệu cũ, chính là nơi tiếp giáp giữa kênh đào và dòng sông trong thành Tế Dương, giống như miệng một quả hồ lô, thon dài hẹp nhỏ. Chỉ khi đi qua được “miệng hồ lô” này, mới có thể chân chính tiến vào kênh đào.

“Hỏa công có thể thực hiện, có thể bố trí quân mai phục tại đây. Đoạn này hẹp, thuyền lớn không thể tiến, thuyền nhỏ có thể di chuyển linh hoạt.”

Ánh mắt Thôi Việt Chi sáng lên — Tiêu Giác nhìn rất chuẩn, nơi này đích thực thích hợp để mai phục.

“Còn việc hỏa công thế nào,” Tiêu Giác nói, “phải xem hướng gió và địa hình.”

“Trong thành có Ty Thiên Đài, chuyên trách quan sát thiên tượng và hướng gió!” Một tướng lĩnh Tế Dương lên tiếng: “Bình thường dùng để tính toán thời vụ gieo trồng.”

Lại có người chần chừ hỏi: “Nhưng nếu hôm đó gió ngược thì sao?”

“Vậy thì không thể dùng hỏa công.” Tiêu Giác nói: “Dù sao mỗi cuộc chiến đều cần có thiên thời, địa lợi, nhân hòa.”

Hòa Yến thầm nghĩ, không sai — thiếu một trong ba đều không được. Dĩ nhiên, Tiêu Giác vẫn chưa nói hết. Nếu hôm đó gió ngược thì tất nhiên cũng phải có biện pháp khác thay thế.

Nhưng chiến tranh xưa nay vốn luôn có một phần cậy nhờ vận may. Trong sử sách cũng đã ghi chép không ít những trận đánh không được trời cao phù hộ, suýt thành lại thất bại. Điều duy nhất họ có thể làm chính là cố gắng hết sức giảm thiểu mọi khả năng không chắc chắn xuống mức thấp nhất.

Cuộc thảo luận về trận thủy chiến này kéo dài mãi đến tận nửa đêm mọi người mới lần lượt rời khỏi phòng. Từ lúc bắt đầu ai nấy đều chán nản uể oải, bi quan thất vọng, mà đến cuối cùng tinh thần lại phấn chấn, ánh mắt rạng ngời, tất cả chỉ bởi một giả thiết “hoang đường” của Hòa Yến.

Khi nhóm người bước ra, thần sắc so với lúc đầu đã hoàn toàn khác biệt, Lâm Song Hạc thấy vậy không khỏi kinh ngạc hỏi: “Sao lại thế này? Mọi người làm gì trong đó mà bọn họ lại vui vẻ như thế?”

Hòa Yến ngáp một cái, đáp: “Tất nhiên là lấy lý lẽ cảm hóa lòng người rồi.”

“Nào đến mức đó nhỉ,” Lâm Song Hạc lẩm bẩm, “Người không biết còn tưởng các ngươi vừa ở bên trong uống xong một bữa hoa tửu đấy.”

Hòa Yến: “……”

Nàng nói: “Thời gian không còn sớm nữa, ta về nghỉ ngơi trước. Có chuyện gì ngày mai hẳn nói.”

Lâm Song Hạc gật đầu: “Được.”

Hòa Yến trở về phòng, ban ngày vừa chỉnh đốn trận pháp binh sĩ của thành Tế Dương tại võ trường, đêm đến lại bàn bạc chiến lược, tính toán bản đồ, lúc này nàng đã thấy buồn ngủ rã rời. Sau khi rửa mặt chải đầu, nàng bước ra thì trông thấy Tiêu Giác vẫn còn ngồi trước bàn trong phòng trong, cầm bút viết viết vẽ vẽ gì đó.

Hòa Yến ghé mắt lại nhìn, thì ra hắn không biết lấy từ đâu một bản thu nhỏ của tấm bản đồ lúc nãy treo trên tường trong thư phòng của Thôi Việt Chi. Hắn đang đặt nó bên cạnh bản sao sơ đồ bố phòng của người Ô Thác mà Sở Chiêu đã giao cho Mục Hồng Cẩm trước đó, so sánh đối chiếu từng chi tiết.

Hắn viết ra những điểm cần lưu ý trong kế sách hỏa công mà Hòa Yến vừa đề xuất—ví dụ nên bố trí bao nhiêu quân mai phục tại “miệng hồ lô”, tình hình gió ngày hôm đó, bố trí cổng thành và lực lượng phòng thủ nội thành. Binh lực của thành Tế Dương quá mỏng, mỗi một binh một lính cũng đều phải sắp xếp vô cùng cẩn trọng.

Cảnh tượng ấy trông thật chẳng khác nào một nàng dâu tằn tiện chắt bóp nuôi gia đình.

Hòa Yến nói: “Đô đốc, vẫn chưa ngủ sao?”

“Ngươi cứ nghỉ trước đi,” Tiêu Giác cũng không ngẩng đầu.

Hòa Yến thầm thở dài một tiếng, khi còn niên thiếu, chỉ cần thiên phú cao là đã có thể trở thành đệ nhất, dù nằm ngủ trên lớp cũng dễ dàng vượt lên đầu. Nhưng nếu muốn duy trì vị trí đầu bảng suốt nhiều năm trời, thì chỉ thiên phú thôi là không đủ, nhớ năm đó nàng ở Phủ Việt Quân cũng như thế này, những đêm khuya canh ba, canh tư nàng đều từng thức qua.

*Canh ba, canh tư: từ 11h đêm đến 3h sáng

Nghĩ đến đây, nàng nói: “Đô đốc, để ta giúp ngài một tay.”

Vừa dứt lời, bên ngoài vang lên tiếng gõ cửa, là giọng của Liễu Bất Vong: “A Hòa, con nghỉ ngơi chưa?”

Đã muộn thế này Liễu Bất Vong còn đến tìm nàng? Hòa Yến và Tiêu Giác liếc mắt nhìn nhau, nói: “Vẫn chưa, sư phụ chờ con một chút.”

Nàng khoác thêm áo choàng rồi đi ra mở cửa. Liễu Bất Vong đứng bên ngoài, có lẽ vừa từ ngoài phủ trở về, trên người vẫn còn vương sương khuya lạnh lẽo. Hòa Yến nhìn ra ngoài, nói: “Sư phụ vào phòng nói đi ạ.”

Liễu Bất Vong bước vào, thấy Tiêu Giác, liền nhẹ gật đầu xem như chào hỏi. Ánh mắt ông dừng lại trên bản đồ trước mặt Tiêu Giác, hơi khựng lại một chút, rồi hỏi: “Trận chiến ở Tế Dương Đô đốc đã có đối sách chưa?”

“Chỉ mới có một chút thôi,” Hòa Yến đáp.

“Nắm bao nhiêu phần thắng?”

Hòa Yến: “Nhiều nhất cũng chỉ năm phần.”

Tốt nhất cũng chỉ là một nửa một nửa.

Liễu Bất Vong trầm ngâm chốc lát, rồi nói: “Người Ô Thác có thể sẽ sớm động thủ.”

Tiêu Giác nhìn về phía ông: “Liễu sư phụ đã tra ra cái gì?”

“Ta theo dõi người Ô Thác phát hiện bọn chúng hiện tại đã phân thành hai hướng, một bộ phận đi về phía ngoại thành, một bộ phận khác thì mất dấu. Bọn chúng đã phát giác ra hành tung của ta, chuyện vương nữ điện hạ cho sơ tán dân chúng e là cũng không thể giấu được bao lâu.” Liễu Bất Vong nói, “Thuyền của người Ô Thác chưa đến, bây giờ chính là cuộc đua với thời gian.”

“Trong thời gian ngắn nhất, bá tánh Tế Dương có thể rút đi càng xa càng tốt, nhưng trong thành vẫn còn những thường dân không thể di dời.” Giọng ông trầm xuống.

Ông không muốn để những thường dân đó trở thành sơn dương bị đồ sát dưới tay người Ô Thác.

“Sư phụ,” Hòa Yến nói, “Ngườii không phải biết bói toán sao? Có từng bói thử trận chiến này là thắng hay bại chưa?”

 *“Vô giải.”

 *Không giải thích được quẻ, không đọc được kết của của quẻ, kết quả không rõ

Hòa Yến: “Vô giải?”

Kỳ thực từ nhiều năm trước khi còn là thiếu niên, Liễu Bất Vong đã từng ở trên núi bói một quẻ về vận số mấy chục năm sau của thành Tế Dương. Quẻ tượng khi đó cho thấy: mấy chục năm sau, nơi này sẽ có đại họa, xác chất thành núi, gà chó chẳng còn. Vận số của cả Đại Ngụy cũng mờ mịt, triều đại sắp tàn. Ông muốn xem thêm nhưng lại bị Vân Cơ đạo trưởng nhìn thấy, đập vỡ mai rùa trong tay ông, quát lớn: “Thiên đạo vô thường, thiên cơ há có thể để con dòm ngó?”

Chuyện ấy cũng đành cho qua.

Về sau, trải qua bao nhiêu chuyện, ông cũng hiểu rõ đạo trời vô định, sức người trước vận mệnh quá đỗi nhỏ bé. Liễu Bất Vong nhiều năm không bói toán nữa, nhưng lần này gặp lại Hòa Yến, biết được thành Tế Dương sẽ có chiến sự, người Ô Thác thế tới hung hãn, ông không thể khoanh tay đứng nhìn, nên lại âm thầm bói một quẻ.

Quẻ tượng từ trước đến nay vốn không hiện rõ nguyên nhân hay diễn biến, chỉ cho thấy kết quả cuối cùng. Ông còn nhớ quẻ tượng năm xưa—đó là một tử cục, sinh cơ tuyệt diệt. Nhưng sau mấy chục năm, quẻ tượng của ông lại cho ra một kết quả hoàn toàn khác.

Cũng vẫn là tử cục nhưng trong quẻ lại xuất hiện thêm hai đạo bóng dáng mờ nhạt. Hai bóng hình ấy ấy phát ra ánh kim rực rỡ, như mang vô lượng công đức, lấp lánh như ánh trời, chiếu rọi lên cục diện chết chóc kia, khiến quẻ tượng như được soi sáng bởi hai tia sáng vàng rực rỡ.

Một tử cục, nhờ vào hai bóng dáng ấy, biến thành “vô giải”.

Ông nhìn không ra được kết quả.